G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 2.33
Tăng Chi Bộ · Ơn Không Trả Nổi

Kinh Khó Trả Ơn Cha Mẹ

Samacittavagga — AN 2.33 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Khó Trả Ơn Cha Mẹ

Đức Phật nói có hai hạng người không thể trả ơn được: Mẹ và Cha. Rồi Ngài đưa ra hai hình ảnh cực điểm — và cuối cùng chỉ ra một cách duy nhất để trả đủ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp, Phẩm Tâm Thăng Bằng (Samacittavagga)
  • Độ dàirất ngắn, chỉ một đoạn
  • Mạch phẩm — đứng ngay sau bài nói về kataññūngười biết ơn
  • Vị tríbài kinh nền tảng về chữ Hiếu trong Phật giáo Nguyên Thuỷ

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng là bài kinh nền tảng về chữ Hiếu trong Phật giáo Nguyên thủy, nằm trong Phẩm Tâm Thăng Bằng (Samacittavagga), Chương Hai Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Phật mở đầu bằng một lời tuyên bố dứt khoát: có hai hạng người mà Ngài nói là "không thể trả ơn được" — đó là Mẹ và Cha. Ngài đưa ra hai hình ảnh cực điểm để cho thấy ơn ấy lớn tới mức nào. Hình ảnh thứ nhất: một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, cõng như vậy suốt trăm năm cho đến trăm tuổi, lại còn đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dù cha mẹ có vãi đại tiểu tiện ngay trên vai mình, người con vẫn chưa làm đủ, chưa trả ơn đủ. Hình ảnh thứ hai: dù có đưa cha mẹ lên ngôi vị tối thượng uy lực, làm chủ cả quả đất đầy bảy báu, cũng vẫn chưa trả ơn đủ. Vì sao? Vì "cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này". Ơn sinh thành, dưỡng dục và mở ra cả thế giới cho con là ơn không thể cân đo bằng vật chất hay quyền lực. Nhưng bài kinh không dừng ở chỗ tuyệt vọng. Đức Phật chỉ ra một con đường duy nhất để trả đủ ơn: đó là hướng cha mẹ về Chánh pháp. Cha mẹ không có lòng tin thì khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị vào lòng tin (saddhā); cha mẹ theo ác giới thì an trú vào thiện giới (sīla); cha mẹ xan tham thì an trú vào bố thí (cāga); cha mẹ theo ác trí tuệ thì an trú vào trí tuệ (paññā). "Cho đến như vậy… là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha." Với Huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT, bài kinh dạy: hiếu vật chất là điều đương nhiên phải làm, nhưng hiếu cao nhất là giúp cha mẹ có niềm tin, giữ giới, biết chia sẻ và có trí tuệ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tuyên bố: có hai hạng người không thể trả ơn được — Đức Phật gọi chúng Tỷ-kheo và nói có hai hạng người Ngài nói là không thể trả ơn được. Hỏi: Thế nào là hai? Đáp: Mẹ và Cha. (an2.33:1.1–1.3)
  • 2. Ví dụ thứ nhất: cõng cha mẹ trên vai suốt trăm năm — Một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha suốt trăm năm cho đến trăm tuổi, kèm đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, dù cha mẹ vãi đại tiểu tiện ngay tại đó — vẫn chưa làm đủ, chưa trả ơn đủ. (an2.33:1.4–1.5)
  • 3. Ví dụ thứ hai: an trí cha mẹ vào ngôi vị tối thượng — Dù an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn đầy bảy báu, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ. (an2.33:1.6)
  • 4. Lý do: ơn sinh thành, dưỡng dục, giới thiệu vào đời — Câu hỏi 'Vì cớ sao?' và câu trả lời: cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. (an2.33:1.7–1.8)
  • 5. Cách duy nhất trả đủ ơn: an trú cha mẹ vào lòng tin, giới, bố thí, trí tuệ — Bốn cặp đối chiếu: không lòng tin → lòng tin; ác giới → thiện giới; xan tham → bố thí; ác trí tuệ → trí tuệ. Làm được như vậy mới là làm đủ và trả ơn đủ mẹ cha. (an2.33:1.9)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

an2.33:1.1–1.3
Dvinnāhaṁ, bhikkhave, na suppatikāraṁ vadāmi. Katamesaṁ dvinnaṁ? Mātu ca pitu ca.
Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Mendicants, I say that these two individuals cannot easily be repaid. What two? Mother and father.
an2.33:1.4–1.5
Ekena, bhikkhave, aṁsena mātaraṁ parihareyya, ekena aṁsena pitaraṁ parihareyya vassasatāyuko vassasatajīvī so ca nesaṁ ucchādanaparimaddananhāpanasambāhanena. Te ca tattheva muttakarīsaṁ cajeyyuṁ, na tveva, bhikkhave, mātāpitūnaṁ kataṁ vā hoti paṭikataṁ vā.
Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.
You would not have done enough to repay your mother and father even if you were to carry your mother around on one shoulder and your father on the other, and if you lived like this for a hundred years, and if you were to anoint, massage, bathe, and rub them; and even if they were to defecate and urinate right there.
an2.33:1.6
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā pahūtarattaratanāya mātāpitaro issarādhipacce rajje patiṭṭhāpeyya, na tveva, bhikkhave, mātāpitūnaṁ kataṁ vā hoti paṭikataṁ vā.
Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.
Even if you were to establish your mother and father as supreme monarchs of this great earth, abounding in the seven treasures, you would still not have done enough to repay them.
an2.33:1.7–1.8
Taṁ kissa hetu? Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāro.
Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.
Why is that? Parents are very helpful to their children: they raise them, nurture them, and show them the world.
an2.33:1.9
Yo ca kho, bhikkhave, mātāpitaro assaddhe saddhāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, dussīle sīlasampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, maccharī cāgasampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, duppaññe paññāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, ettāvatā kho, bhikkhave, mātāpitūnaṁ katañca hoti paṭikatañcāti.
Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.
But you have done enough, more than enough, to repay them if you encourage, settle, and ground unfaithful parents in faith, unethical parents in ethical conduct, stingy parents in generosity, or ignorant parents in wisdom.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
mātāpitaromẹ và cha, cha mẹmātu = của mẹ, pitu = của cha
na suppatikārakhông dễ trả ơn, không thể đền đáp cho đủsu- (dễ) + paṭikāra (sự đền đáp); HT. Minh Châu dịch 'không thể trả ơn được'
kataññū – katavedībiết ơn – nhớ ơn và đáp ơnTừ khóa của cả phẩm; xuất hiện ở bài an2.32 ngay trước đó, làm nền cho bài kinh này
āpādakā posakāngười nuôi nấng, người dưỡng dụcnói về công ơn cha mẹ đối với con
imassa lokassa dassetārongười giới thiệu (chỉ cho thấy) thế giới nàyHT. Minh Châu: 'giới thiệu chúng vào đời này'
saddhā-sampadāđầy đủ lòng tin, tín cụ túcassaddha = không có lòng tin
sīla-sampadāđầy đủ giới hạnh, giới cụ túcdussīla = ác giới, phá giới
cāga-sampadāđầy đủ hạnh bố thí, thí cụ túcmaccharī = xan tham, keo kiệt
paññā-sampadāđầy đủ trí tuệ, tuệ cụ túcduppañña = ác trí tuệ, thiếu trí tuệ
samādapeti – niveseti – paṭiṭṭhāpetikhuyến khích – hướng dẫn – an trú (làm cho vững chắc)Bộ ba động từ lặp lại bốn lần trong đoạn kết, là công thức 'trả ơn đủ'
SamacittavaggaPhẩm Tâm Thăng BằngTên phẩm thứ tư của Chương Hai Pháp; tên lấy từ 'samacittā devatā' (chư thiên tâm thăng bằng) trong bài an2.36
sattaratanabảy báutrong kinh: 'pahūtarattaratanāya' — quả đất lớn đầy châu báu

Hình ảnh thứ nhất cố ý làm người nghe khó chịu. Một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, suốt trăm năm — đã quá sức rồi. Nhưng kinh chưa dừng: còn đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và “dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện”. Chi tiết ấy không phải để gây sốc. Nó nói đúng cái mà người nuôi cha mẹ già thật sự phải làm.

Và câu trả lời vẫn là: chưa đủ. Kinh nói thẳng — làm hết chừng ấy vẫn “chưa làm đủ hay trả ơn đủ”.

Hình ảnh thứ hai chuyển sang phía khác. Nếu không trả bằng sức được, thì trả bằng của? Đưa cha mẹ lên ngôi vua cả quả đất đầy bảy báuvẫn chưa đủ. Hai hình ảnh đóng hai lối: sức người và của cải.

Lý do rất gọn, và đáng nghĩ lâu. Cha mẹ đã làm nhiều cho con cái: nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, và giới thiệu chúng vào đời này. Chữ cuối mới nặng — chính cha mẹ mở ra cả thế giới cho mình. Cái ấy không quy ra vật được.

Nhưng kinh không bỏ người con ở chỗ tuyệt vọng.một cách trả đủ, và chỉ một: hướng cha mẹ về Chánh pháp. Bốn cặp: không lòng tin → lòng tin; ác giới → thiện giới; xan tham → bố thí; ác trí tuệ → trí tuệ. Làm được vậy thì “là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha”.

Chỗ này rất dễ dạy lệch, xin thưa rõ. Kinh không nói nuôi cha mẹ là vô ích. Kinh không cho phép ai lấy cớ “con lo phần đạo” mà bỏ phần cơm áo thuốc thang. Hiếu vật chất là việc đương nhiên phải làm; kinh chỉ nói chừng ấy chưa trả hết.

Và một điều tế nhị. Bốn cặp ấy chỉ áp dụng khi cha mẹ còn thiếu điều đó. Cha mẹ đã có lòng tin, đã giữ giới rồi thì người con không có gì để “hướng dẫn” — và ý ấy vẫn nguyên: cùng nhau giữ lấy bốn điều đó.

  • “Nuôi cha mẹ là đủ hiếu.” Kinh nói chưa đủ — nhưng không nói khỏi nuôi.
  • “Phải ép cha mẹ theo đạo.” Chữ trong kinh là khuyến khích, hướng dẫn, an trú — không phải ép.
  • “Cha mẹ đã tu rồi thì con hết bổn phận.” Khi ấy phần chăm sóc và cùng giữ vẫn còn nguyên.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy hình ảnh cõng cha mẹ trên vai trăm năm. Hỏi: nặng không? Bỏ chi tiết đại tiểu tiện.
  • Ngành Thiếu. Bài chính cho mùa Vu Lan. Hỏi: vì sao tiền bạc không trả được ơn này?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bốn cặp tin · giới · thí · tuệ. Bàn cho kỹ chỗ khuyến khích khác với ép buộc — nhiều gia đình vướng đúng chỗ này.
  • Vì sao hai hình ảnh ấy đóng cả hai lối trả ơn?
  • Giới thiệu chúng vào đời này nghĩa là gì?
  • Vì sao chỉ có một cách trả đủ?
  • Khuyến khích khác ép buộc ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng (bài này nằm trong cụm AN 2.32–41). Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.