G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 2.13
Sức Mạnh Tu Tập · Lần Này Là Bốn Thiền

Kinh Hai Sức Mạnh (3)

Bala Sutta — AN 2.13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hai Sức Mạnh (3)

Bài thứ BA trong nhóm ba bài cùng nói về hai sức mạnh. Phần tư sát thì bản in ghi tắt “(như số 1 ở trên)”; còn SỨC MẠNH TU TẬP lần này được giảng là BỐN THIỀN.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp, Phẩm Tranh Luận (Adhikaraṇavagga), kinh 13
  • Cách tra — tra bằng mã gộp an2.11-20
  • Nhóm ba bàiAN 2.11 (bậc hữu học), AN 2.12 (bảy giác chi), AN 2.13 (bốn Thiền)
  • Đọc kèmAN 2.11 (đã có trang riêng) và AN 3.90

AN 2.13 là bài thứ ba trong nhóm ba bài ngắn liên tiếp (AN 2.11, 2.12, 2.13) cùng mở đầu bằng câu "Có hai sức mạnh": sức mạnh tư sát (paṭisaṅkhānabala) và sức mạnh tu tập (bhāvanābala). Ba bài giống hệt nhau ở phần đầu; chỗ khác nhau duy nhất là cách định nghĩa sức mạnh tu tập. AN 2.11 giải thích sức mạnh tu tập là sức mạnh của bậc hữu học, nhờ đó từ bỏ tham, sân, si. AN 2.12 giải thích bằng bảy giác chi. Riêng AN 2.13 giải thích sức mạnh tu tập bằng bốn Thiền (tứ thiền). Sức mạnh tư sát là sức mạnh của sự suy xét: người ấy quán chiếu rằng thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác đều đưa đến quả dị thục xấu ngay trong hiện tại và cả trong đời sau. Nhờ suy xét như vậy, người ấy từ bỏ ba nghiệp ác và tu tập ba nghiệp thiện, giữ mình thanh tịnh. Đây là sức mạnh của trí hiểu nhân quả, ai cũng có thể dùng được ngay trong đời sống hằng ngày. Sức mạnh tu tập, theo bài kinh này, là công phu thiền định: ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và an trú sơ Thiền (hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ); rồi tịnh chỉ tầm tứ, an trú Thiền thứ hai (hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm); rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, an trú Thiền thứ ba; sau cùng xả lạc xả khổ, an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh cho một cặp bổ túc rất rõ: hiểu (tư sát) và làm (tu tập). Chỉ suy xét mà không thực hành thì đạo lý chỉ nằm trên chữ nghĩa; chỉ ngồi thiền mà thiếu suy xét nhân quả thì thiếu nền tảng giới hạnh. Hai sức mạnh ấy đi đôi với nhau.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu hai sức mạnh — Có hai sức mạnh: sức mạnh tư sát (paṭisaṅkhānabala) và sức mạnh tu tập (bhāvanābala).
  • 2. Định nghĩa sức mạnh tư sát — Quán xét thân, miệng, ý làm ác đều có quả dị thục ác trong hiện tại và đời sau; nhờ đó từ bỏ ba nghiệp ác, tu tập ba nghiệp thiện, giữ mình thanh tịnh. (Trong bản Việt của HT. Thích Minh Châu, đoạn này được ghi tắt là 'như số 1 ở trên'; nguyên văn nằm ở TTC 1 tức AN 2.11.)
  • 3. Định nghĩa sức mạnh tu tập bằng bốn Thiền — Tỷ-kheo chứng và an trú sơ Thiền, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư. Đây gọi là sức mạnh tu tập.
  • 4. Kết — Những pháp này là hai sức mạnh.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 2.13.1.1–1.3
“Dvemāni, bhikkhave, balāni. Katamāni dve? Paṭisaṅkhānabalañca bhāvanābalañca.
Này càc Tỷ kheo, có hai sức mạnh…. (như số 1 ở trên).
“There are, mendicants, these two powers. What two? The power of reflection and the power of development.
AN 2.13.2.1–2.2
Katamañca, bhikkhave, bhāvanābalaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sức mạnh tu tập? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
And what, mendicants, is the power of development? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
AN 2.13.2.3
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
AN 2.13.2.4
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
AN 2.13.2.5
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
AN 2.13.2.6–2.7
Idaṁ vuccati, bhikkhave, bhāvanābalaṁ. Imāni kho, bhikkhave, dve balānī”ti.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sức mạnh tu tập. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai sức mạnh.
This is called the power of development. These are the two powers.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
balasức mạnh
paṭisaṅkhānabalasức mạnh tư sát (sức mạnh của sự suy xét, quán chiếu)Bản Anh của Sujato: the power of reflection
bhāvanābalasức mạnh tu tậpBản Anh của Sujato: the power of development
duccarita / sucaritalàm ác / làm thiện (thân, miệng, ý)
vipākaquả dị thục
jhānaThiền (trạng thái thiền định)
vitakka / vicāratầm / tứ
pīti / sukhahỷ / lạc
upekkhāxả
sati / sampajaññachánh niệm / tỉnh giác
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnh
adhikaraṇatranh tụngtên phẩm chứa bài kinh: Adhikaraṇavagga — Phẩm Tranh Luận

Xin thưa bài này phải đọc CÙNG AN 2.11, vì bản in ghi tắt phần đầu.

Câu mở của bản Việt là: “Này càc Tỷ kheo, có hai sức mạnh…. (như số 1 ở trên).” — tức bản in bảo người đọc quay lại bài AN 2.11.

Nên xin nhắc lại cho đủ: hai sức mạnh là SỨC MẠNH TƯ SÁT và SỨC MẠNH TU TẬP; tư sátsuy xét cho kỹ rằng thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác đều có quả khổ NGAY HIỆN TẠI và trong đời sau, rồi TỪ BỎ.

Còn SỨC MẠNH TU TẬP thì ba bài giảng ba cách: AN 2.11sức mạnh của bậc hữu học đoạn trừ tham sân si; AN 2.12tu tập BẢY GIÁC CHI; và bài nàyBỐN THIỀN.

Và bài này chép đủ bốn Thiền, không rút gọn:

Thiền thứ nhất“ly dục, ly pháp bất thiện”, một trạng thái hỷ lạc do LY DỤC sanh, có tầm có tứ.

Thiền thứ hai“làm cho tịnh chỉ TẦM và TỨ”, hỷ lạc do ĐỊNH sanh, không tầm không tứ.

Thiền thứ ba“ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “XẢ NIỆM LẠC TRÚ”.

Thiền thứ tư“xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước”, không khổ không lạc, XẢ NIỆM THANH TỊNH.

Xin thưa con thấy chỗ đáng học là ở CHỖ BA BÀI GIẢNG KHÁC NHAU.

Cùng một chữ “sức mạnh tu tập”, mà một bài giảng là ĐOẠN TRỪ tham sân si, một bài giảng là BẢY GIÁC CHI, một bài giảng là BỐN THIỀNvà cả ba đều đúng.

Con nghĩ điều ấy gỡ được một cái vướng thường gặp: người ta hay hỏi “tu tập nghĩa là làm gì cho ĐÚNG?”như thể chỉ có một cách.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ nên dạy bài này CHUNG với AN 2.11một buổi, hai bài — vì bản in vốn đã ghi tắt, tách ra thì hụt.

điều đáng nhấn không phải là bốn Thiền (chỗ ấy sâu), mà là: TU TẬP có nhiều đườngmiễn là có TƯ SÁT đi trước.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất: bản dựng đầu có HAI ô trích với ô tiếng Việt bỏ trống; theo luật của trang thì không được để trống ô tiếng Việt, nên đã bỏ cả hai.

Thứ hai: ô trích đầu chép nguyên văn bản in, kể cả chỗ ghi tắt: “Này càc Tỷ kheo, có hai sức mạnh…. (như số 1 ở trên).”

Trong đó “càc” và “Tỷ kheo” (thiếu gạch nối) là LỖI IN CÓ SẴN của bản điện tử, còn “(như số 1 ở trên)” là cách bản in TỰ rút gọn phần lặp lại từ AN 2.11. Chúng con GIỮ NGUYÊN lời Hoà thượng và thưa rõ ở đây, không tự sửa.

  • “Sức mạnh tu tập nghĩa là bốn Thiền.” Ba bài giảng BA cách: đoạn trừ tham sân si (AN 2.11), bảy giác chi (AN 2.12), bốn Thiền (bài này) — cả ba đều đúng.
  • “Bản in ghi thiếu phần đầu.” Bản in TỰ ghi tắt bằng “(như số 1 ở trên)”bảo người đọc quay lại AN 2.11.
  • “Chữ ‘càc’ là trang gõ sai.” Lỗi in có sẵn trong bản điện tử; trang giữ nguyên và chú thích.
  • “Phải chứng bốn Thiền mới có sức mạnh tu tập.” AN 2.11 định nghĩa sức mạnh tu tập là của bậc HỮU HỌCbậc còn đang đi.
  • “Tư sát và tu tập là hai giai đoạn.”hai NĂNG LỰC; kinh đặt tư sát TRƯỚCphải THẤY cái hại đã, rồi mới bỏ được.
  • “Xả niệm lạc trú là hết cảm giác.” Kinh nói thân VẪN CẢM lạc thọ, mà trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
  • Ngành Oanh. Đừng dạy bốn Thiền. Chỉ một ý: “nghĩ cho kỹ rồi hãy bỏ điều quấy.”
  • Ngành Thiếu. Học tên hai sức mạnh, và biết rằng “tu tập” được giảng BA cách trong ba bài.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dạy chung một buổi với AN 2.11. Bàn: vì sao cùng một chữ mà ba bài giảng ba cách, và cả ba đều đúng?
  • Hai sức mạnh là gì?
  • Ở bài này, sức mạnh tu tập được giảng là gì?
  • Hai bài kia giảng khác thế nào?
  • Vì sao câu mở đầu lại ghi “(như số 1 ở trên)”?
  • Thiền thứ tư được tả bằng những chữ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.