G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 2.11
Sức Mạnh Tư Sát · Sức Mạnh Tu Tập

Kinh Hai Sức Mạnh

Bala Sutta — AN 2.11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hai Sức Mạnh

Hai sức mạnh: SỨC MẠNH TƯ SÁTSỨC MẠNH TU TẬP. Sức mạnh tư sát là suy xét cho kỹ rằng thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác đều có quả khổNGAY HIỆN TẠI và trong đời saurồi từ bỏ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp, Phẩm Tranh Luận (Adhikaraṇavagga), kinh 11 — bài MỞ ĐẦU phẩm
  • Cách tra — SuttaCentral không có trang riêng; các bài từ số 11 trở đi tra bằng mã gộp an2.11-20
  • Ba bài đầu của phẩmAN 2.11, 2.12, 2.13cùng nói về hai sức mạnh này
  • Đọc kèmAN 2.5 (không biết đủ với thiện, không thối chuyển) và AN 2.4

Phẩm Tranh Luận nằm trong Chương Hai Pháp của Tăng Chi Bộ, gồm mười bài kinh ngắn, mỗi bài nêu lên "hai pháp". Ba bài đầu cùng nói về hai sức mạnh: sức mạnh tư sát (paṭisaṅkhānabala) và sức mạnh tu tập (bhāvanābala). Sức mạnh tư sát là năng lực suy xét kỹ rằng thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác đều đưa đến quả khổ ngay trong hiện tại và trong đời sau; nhờ suy xét như vậy mà người ấy từ bỏ ba nghiệp ác và tu tập ba nghiệp lành, giữ mình thanh tịnh. Sức mạnh tu tập được giảng theo ba cách khác nhau trong ba bài: là sức mạnh của bậc hữu học đoạn trừ tham sân si; là tu tập bảy giác chi; và là chứng trú bốn Thiền. Bài thứ tư rất ngắn: Như Lai có hai cách thuyết pháp, lược thuyết và rộng thuyết. Bài thứ năm dạy về tranh tụng trong Tăng chúng: nếu cả Tỷ-kheo phạm tội lẫn Tỷ-kheo buộc tội đều không tự quán sát lấy mình thì tranh tụng sẽ kéo dài, gay gắt, ác liệt; nếu cả hai đều khéo tự quán sát lấy mình thì tranh tụng không kéo dài và chúng Tăng sống an lạc. Điều đáng chú ý là cả hai bên đều kết luận giống nhau: "ở đây tội đã phạm chinh phục ta", tức mỗi bên đều nhận phần lỗi về mình. Hai bài kế là hai cuộc đối thoại với Bà-la-môn về nhân duyên sanh vào cõi dữ hay cõi lành: do phi pháp hành và bất bình đẳng hành mà đọa; do pháp hành và bình đẳng hành mà sanh thiện thú — và do "có làm và không làm", nghĩa là có làm ác mà không làm thiện, hay ngược lại. Bài thứ tám, Thế Tôn dạy Tôn giả Ānanda năm điều nguy hại của ba nghiệp ác và năm lợi ích của ba nghiệp lành. Bài thứ chín khẳng định điều rất khích lệ: từ bỏ bất thiện và tu tập thiện là việc CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC, và vì đưa đến hạnh phúc an lạc nên Thế Tôn mới dạy như vậy. Hai bài cuối dạy văn cú và ý nghĩa: văn cú đảo ngược thì ý nghĩa hiểu lầm, khiến diệu pháp biến mất; văn cú phối trí chơn chánh thì ý nghĩa được hiểu chơn chánh, diệu pháp được an trú.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • TTC 1 (AN 2.11) — Hai sức mạnh: tư sát và tu tập — Định nghĩa sức mạnh tư sát (suy xét quả báo của ba nghiệp ác rồi từ bỏ, tu tập ba nghiệp lành). Sức mạnh tu tập ở đây là sức mạnh của bậc hữu học, do đó từ bỏ tham, sân, si.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 2.11 (TTC 1) — an2.11:1.1-1.3
Dvemāni, bhikkhave, balāni. Katamāni dve? Paṭisaṅkhānabalañca bhāvanābalañca.
Có hai sức mạnh, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Sức mạnh tư sát và sức mạnh tu tập.
There are, mendicants, these two powers. What two? The power of reflection and the power of development.
AN 2.11 (TTC 1) — an2.11:1.5-1.7
Idha, bhikkhave, ekacco iti paṭisañcikkhati: ‘kāyaduccaritassa kho pāpako vipāko diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca, vacīduccaritassa pāpako vipāko diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca, manoduccaritassa pāpako vipāko diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañcā’ti. So iti paṭisaṅkhāya kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tư sát như sau: “Với thân làm ác, quả dị thục là ác ngay hiện tại và trong đời sau. Với miệng nói ác, quả dị thục là ác ngay trong hiện tại và trong đời sau. Với ý nghĩ ác, quả dị thục là ác ngay trong hiện tại và trong đời sau”. Vị ấy, tư sát như vậy, từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm thiện, từ bỏ miệng nói ác, tu tập miệng nói thiện, từ bỏ ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ thiện, tư sát sự thật thanh tịnh.
It’s when someone reflects: ‘Bad conduct of body, speech, or mind has a bad, painful result in both this life and the next.’ Reflecting like this, they give up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develop good conduct by way of body, speech, and mind, keeping themselves pure.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
balasức mạnh
paṭisaṅkhānabalasức mạnh tư sátHT. Minh Châu dịch 'sức mạnh tư sát'; Sujato: 'the power of reflection'
bhāvanābalasức mạnh tu tập
kāyaduccarita / vacīduccarita / manoduccaritathân làm ác / miệng nói ác / ý nghĩ ác
kāyasucarita / vacīsucarita / manosucaritathân làm thiện / miệng nói thiện / ý nghĩ thiện
vipākaquả dị thục
sekhabậc hữu học
rāga, dosa, mohatham, sân, si
sambojjhaṅgagiác chibảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả
jhānaThiền (bốn Thiền)
adhikaraṇatranh tụng
codaka bhikkhu / āpanno bhikkhuTỷ-kheo buộc tội / Tỷ-kheo phạm tội
paccavekkhatiquán sát (tự mình quán sát lấy mình)
apāya, duggati, vinipāta, nirayacõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục
sugati, sagga lokacõi Thiện, cõi Trời
ādīnava / ānisaṁsanguy hại / lợi ích
akusala / kusalabất thiện / thiện
saddhammadiệu pháp, chánh pháp
padabyañjanavăn cú (chữ và câu)

Xin thưa đây là bài MỞ ĐẦU của Phẩm Tranh Luận (Adhikaraṇavagga) — phẩm thứ hai của Chương Hai Pháp.

Thế Tôn dạy: “Có HAI SỨC MẠNH, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? SỨC MẠNH TƯ SÁT và SỨC MẠNH TU TẬP.”

chỉ có SỨC MẠNH TƯ SÁT được giảng rộng trong bài này, bằng một đoạn rất cụ thể:

“Có người tư sát như sau: ‘Với THÂN làm ác, quả dị thục là ác NGAY HIỆN TẠI và trong ĐỜI SAU. Với MIỆNG nói ác… Với Ý nghĩ ác…’”

Rồi: “Vị ấy, TƯ SÁT NHƯ VẬY, TỪ BỎ thân làm ác, TU TẬP thân làm thiện… tư sát sự thật thanh tịnh.”

Xin thưa chữ “TƯ SÁT” (paṭisaṅkhāna) nghĩa là SUY XÉT CHO KỸkhông phải nghi ngờ, cũng không phải lo sợ. Là ngồi xuống mà nghĩ cho tới nơi.

chỗ con thấy đáng để ý nhất là bốn chữ “NGAY HIỆN TẠI”.

người ta hay nghĩ quả báo là chuyện ĐỜI SAU, mà kinh đặt “ngay hiện tại” LÊN TRƯỚC. Làm điều ác thì khổ NGAY — trong lòng, trong nhà, trong chỗ mình sống.

chỗ ấy ăn thẳng với AN 2.4hai pháp KHÔNG làm cho hối hậncùng một mạch: cái quả gần nhất của việc ác là CÁI ÂM Ỉ TRONG LÒNG MÌNH.

Còn SỨC MẠNH TU TẬP thì ba bài đầu của phẩm giảng theo BA CÁCH KHÁC NHAU, và con xin nói rõ bài nào là bài nào:

bài này (AN 2.11) giảng là sức mạnh của bậc HỮU HỌC đoạn trừ tham sân si; AN 2.12 giảng là tu tập BẢY GIÁC CHI; AN 2.13 giảng là chứng trú BỐN THIỀN.

Xin thưa cách xếp ấy dạy một điều: “tu tập” KHÔNG phải một pháp môn duy nhất. Cùng một chữ, ba bài giảng ba cách — và cả ba đều đúng.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ hai sức mạnh này chia việc tu ra rất gọn: một cái là SUY XÉT, một cái là LÀM.

kinh đặt TƯ SÁT lên TRƯỚC — con nghĩ vì người ta phải THẤY cái hại đã, rồi mới bỏ được. Bảo suông thì không bỏ.

Câu để hỏi các em, con nghĩ, là câu của chính bài kinh: “việc ấy, làm rồi thì NGAY BÂY GIỜ con thấy thế nào?”

Xin thưa BA việc về trang, vì bài này có chỗ nặng.

Thứ nhất: trong CHÍN ô trích của bản dựng đầu, chỉ có HAI ô là của chính bài AN 2.11; BẢY ô còn lại lấy chữ từ các bài khác trong cùng phẩmAN 2.12, 2.14, 2.15, 2.16, 2.18, 2.19, 2.20.

Luật của trang là ô trích CHỈ chứa nguyên văn của CHÍNH bài kinh ấy; chỗ đối chiếu thì để trong phần giảng như đang viết đây. Đã bỏ bảy ô. Vì vậy phần trích chỉ còn HAI ô — ĐÚNG BẰNG độ dài thật của AN 2.11, không phải do tra thiếu.

Thứ hai: bản dựng đầu đặt nhan đề là tên CẢ PHẨM (“Phẩm Tranh Luận — Các Sức Mạnh”) và phần bố cục liệt kê đủ MƯỜI bài của phẩm — tức mô tả cả phẩm chứ không phải một bài. Vì đây là trang của RIÊNG bài AN 2.11, chúng con đã đặt lại nhan đềthu bố cục về đúng bài ấy; phần nói về cả phẩm thì để trong phần giảng, có ghi rõ bài nào là bài nào.

Thứ ba: một ô ghi biên số “1.6–1.7”, nhưng câu mở “Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tư sát như sau”đoạn 1.5; đã ghi lại thành 1.5–1.7.mọi ô tiếng Việt đã được đối chiếu tự động với bản dịch của Hoà thượng — đều đúng nguyên văn.

  • “Tư sát là nghi ngờ.” PaṭisaṅkhānaSUY XÉT CHO KỸngồi xuống nghĩ cho tới nơi, không phải nghi ngờ hay lo sợ.
  • “Quả báo là chuyện đời sau.” Kinh đặt “NGAY HIỆN TẠI” lên TRƯỚC, rồi mới tới “và trong đời sau”.
  • “Sức mạnh tu tập là ngồi thiền.” Ba bài đầu của phẩm giảng BA CÁCH: bậc hữu học đoạn tham sân si (bài này), bảy giác chi (AN 2.12), bốn Thiền (AN 2.13).
  • “Hai sức mạnh là hai hạng người.”hai NĂNG LỰC nơi cùng một người: một cái SUY XÉT, một cái LÀM.
  • “Tư sát rồi là đủ.” Kinh nói rõ vế sau: “vị ấy, tư sát như vậy, TỪ BỎ… TU TẬP…”suy xét để mà LÀM.
  • “Bài kinh này dài, có mười mục.” Bài AN 2.11 rất ngắn; mười mục kia là của CẢ PHẨM, đã được thu về đúng bài.
  • Ngành Oanh. Một câu: “làm điều quấy thì khổ NGAY, không phải đợi tới sau.”
  • Ngành Thiếu. Học tên hai sức mạnh, và bốn chữ “ngay hiện tại”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 2.4. Bàn: vì sao kinh đặt TƯ SÁT trước TU TẬP?
  • Hai sức mạnh là gì?
  • “Tư sát” nghĩa là gì?
  • Người ấy tư sát về điều gì?
  • Bốn chữ nào trong bài đáng để ý nhất?
  • Sức mạnh tu tập được giảng mấy cách trong ba bài đầu của phẩm?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.