G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 2.5
Không Biết Đủ Với Thiện Pháp · Không Thối Chuyển Trong Tinh Cần

Kinh Hai Pháp Đã Học Được

Padhāna Sutta — AN 2.5 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hai Pháp Đã Học Được

Thế Tôn kể HAI PHÁP chính Ngài đã tự mình học được, làm nên sự giác ngộ của Ngài: KHÔNG BIẾT ĐỦ đối với các thiện pháp, và KHÔNG THỐI CHUYỂN trong sự tinh cần — kèm lời nguyện “dù chỉ còn da, gân và xương”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp, Phẩm Hình Phạt (Kammakaraṇavagga), đoạn 5
  • Cách tra — SuttaCentral không có trang riêng; tra bằng mã gộp an2.1-10
  • Đặc điểm — Thế Tôn nói về CHÍNH MÌNH, không nói về người khác
  • Đọc kèmAN 2.4 (cùng phẩm) và MN 70

AN 2.5 là một bài kinh rất ngắn nhưng thường được nhắc tới khi nói về tinh thần tinh tấn. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo rằng chính Ngài đã tự mình học được, biết được hai pháp làm nên sự giác ngộ của Ngài: một là không biết đủ (không tự mãn) đối với các thiện pháp, hai là không thối chuyển đối với sự tinh cần. Không biết đủ đối với thiện pháp nghĩa là dù đã làm được điều lành, đã tiến bộ trong tu tập, người tu vẫn không dừng lại, không cho là đã đủ. Không thối chuyển đối với tinh cần nghĩa là đã bắt đầu cố gắng thì không bỏ cuộc nửa chừng. Kế đó Đức Phật nhắc lại lời nguyện quyết liệt của chính Ngài trước khi thành đạo — đoạn thường được trích tụng nhất: dù chỉ còn da, gân và xương, dù thịt và máu trên thân khô héo, Ngài vẫn không ngừng tinh tấn cho đến khi chứng đắc điều có thể chứng đắc bằng sức mạnh, tinh tấn và cần dõng của con người. Và Ngài xác nhận: chính nhờ không phóng dật (appamāda) mà Ngài chứng được Chánh Giác và Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Phần cuối, Đức Phật chuyển lời nguyện ấy thành lời khuyên cho hàng đệ tử: nếu các Thầy cũng không thối chuyển như vậy thì không bao lâu sẽ tự mình chứng đạt ngay trong hiện tại mục đích mà các thiện nam tử xuất gia hướng tới, tức vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vì vậy Ngài dạy phải học tập như sau: "Không có thối chuyển, chúng ta cố gắng…", rồi lặp lại nguyên vẹn lời nguyện da-gân-xương. Đối với Huynh Trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử, bài kinh này là bản văn gốc cho đức tính Tinh Tấn trong Ngũ Minh và cho châm ngôn "Bi - Trí - Dũng": Dũng ở đây không phải là gan dạ ngoài đời, mà là không bỏ cuộc trên đường tu, và không bao giờ tự cho là mình đã tu đủ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Hai pháp Đức Phật tự mình học được, biết được — Mở đầu: "Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đã học được, biết được" — đó là không biết đủ đối với thiện pháp (asantuṭṭhitā kusalesu dhammesu) và không thối chuyển đối với tinh cần (appaṭivānitā padhānasmiṁ).
  • 2. Lời nguyện của chính Đức Phật: dầu chỉ còn da, gân và xương — Đức Phật kể lại quyết tâm của chính Ngài khi tinh cần: sẵn sàng để thân khô kiệt, chỉ còn da gân xương, chứ không ngừng tinh tấn khi chưa chứng đắc điều có thể chứng đắc bằng sức người.
  • 3. Kết quả: nhờ không phóng dật mà chứng Chánh Giác — Ngài xác nhận chính nhờ không phóng dật (appamāda) mà chứng được Chánh Giác và Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách (anuttara yogakkhema).
  • 4. Lời khuyên cho các Tỷ-kheo và quả vị hứa khả — Nếu các Tỷ-kheo cũng không thối chuyển với cùng lời nguyện ấy, thì không bao lâu sẽ ngay trong hiện tại tự mình chứng ngộ vô thượng cứu cánh Phạm hạnh — mục đích của người xuất gia.
  • 5. Lời dạy học tập (sikkhitabbaṁ) và lặp lại lời nguyện — "Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau" — chuyển lời nguyện thành số nhiều "chúng ta cố gắng", lặp lại nguyên vẹn câu da-gân-xương, và kết: "Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập."

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 2.5:1.1–1.2
“Dvinnāhaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ upaññāsiṁ— yā ca asantuṭṭhitā kusalesu dhammesu, yā ca appaṭivānitā padhānasmiṁ.
Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đã học được, biết được. Thế nào là hai? Không biết đủ đối với thiện pháp và không có thối chuyển đối với tinh cần.
“Mendicants, I have learned these two things for myself— to never be content with skillful qualities, and to never stop trying.
AN 2.5:1.3–1.4
Appaṭivānī sudāhaṁ, bhikkhave, padahāmi: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Không có thối chuyển, này các Tỷ-kheo, ta cố gắng như sau: “Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người.
I never stopped trying, thinking: ‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
AN 2.5:1.5
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, appamādādhigatā sambodhi, appamādādhigato anuttaro yogakkhemo.
Ta nhờ không phóng dật, chứng được Chánh Giác. Nhờ không phóng dật, chứng được Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách”.
It was by diligence that I achieved awakening, and by diligence that I achieved the supreme sanctuary from the yoke.
AN 2.5:1.6–1.7
Tumhe cepi, bhikkhave, appaṭivānaṁ padaheyyātha: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti, tumhepi, bhikkhave, nacirasseva—
Và này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không có thối chuyển, cố gắng như sau: “Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người”.
If you too never stop trying, thinking: ‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
AN 2.5:1.8
yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatha.
Thời không bao lâu, này các Tỷ-kheo, các Thầy sẽ đạt được mục đích mà các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ðó chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, các Thầy với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
You will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
AN 2.5:1.9–1.11
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appaṭivānaṁ padahissāma. Kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Không có thối chuyển, chúng ta cố gắng, chúng ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người”.
So you should train like this: ‘We will never stop trying, thinking: “Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.”’
AN 2.5:1.12
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
That’s how you should train.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
upaññātađã học được, biết được (tự mình chứng biết)Tên kinh Upaññātasutta lấy từ động từ upaññāsiṁ trong câu mở đầu; HT. Minh Châu dịch "đã học được, biết được".
asantuṭṭhitā kusalesu dhammesukhông biết đủ đối với thiện phápKhông tự mãn với điều lành đã làm được; đây là nghĩa tích cực của "không biết đủ".
appaṭivānitā padhānasmiṁkhông có thối chuyển đối với tinh cầnpadhāna: sự tinh cần, nỗ lực; appaṭivānī: không lui sụt, không bỏ cuộc.
appamādakhông phóng dậtĐức Phật xác nhận nhờ appamāda mà chứng Chánh Giác; đồng nghĩa với lời dạy cuối cùng trong DN 16.
sambodhiChánh Giác
anuttara yogakkhemaVô thượng an ổn khỏi các khổ áchyogakkhema: nơi an ổn thoát khỏi các ách phược (yoga).
vīriya / purisaparakkamatinh tấn / cần dõng của con ngườiHT. Minh Châu dịch purisathāma, purisavīriya, purisaparakkama là "sức mạnh của người, tinh tấn của người, cần dõng của người".
brahmacariyapariyosānacứu cánh Phạm hạnhMục đích tối hậu của đời sống xuất gia.
kulaputtathiện nam tử
sikkhitabbaṁcần phải học tậpCông thức kết thúc quen thuộc của nhiều bài kinh.

Xin thưa bài kinh này ngắn, nhưng giọng của nó thì khác hẳn các bài khác — vì Thế Tôn đang nói về CHÍNH MÌNH.

Ngài dạy rằng chính Ngài đã TỰ MÌNH học được, biết được HAI PHÁP làm nên sự giác ngộ của Ngài.

MỘT — KHÔNG BIẾT ĐỦ đối với các THIỆN PHÁP.

Nghĩa là: dù đã làm được điều lành, đã tiến bộ trong tu tập, người tu vẫn KHÔNG DỪNG LẠI, không cho là đã đủ.

Xin để ý chữ “không biết đủ” ở đây ĐI NGƯỢC với chữ “biết đủ” quen thuộc.

“biết đủ” (santuṭṭhi) là đối với VẬT DỤNGăn, mặc, chỗ ở. Còn ở đây là đối với THIỆN PHÁPvà với thiện pháp thì KHÔNG được biết đủ.

Con nghĩ phân biệt ấy rất đáng dạy, vì người ta hay lẫn hai chỗ: biết đủ với CỦA, không biết đủ với ĐỨC. Lẫn ngược lại thì hỏng cả hai.

HAI — KHÔNG THỐI CHUYỂN trong sự TINH CẦN. Nghĩa là đã bắt đầu cố gắng thì KHÔNG BỎ CUỘC NỬA CHỪNG.

hai pháp ấy đi liền nhau rất khéo: pháp thứ nhất giữ cho mình ĐỪNG DỪNG, pháp thứ hai giữ cho mình ĐỪNG LÙI.

Rồi Thế Tôn nhắc lại LỜI NGUYỆN của chính Ngài TRƯỚC KHI THÀNH ĐẠOđoạn hay được trích tụng nhất của bài kinh:

dù chỉ còn DA, GÂN và XƯƠNG, dù thịt và máu khô cạn, cũng KHÔNG dừng sự tinh tấn cho tới khi đạt được điều có thể đạt được bằng sức người.

Xin thưa một lời dặn kỹ về đoạn này, vì con thấy rất dễ dạy lệch.

Đây là lời nguyện của một BẬC BỒ TÁT SẮP THÀNH ĐẠO, ở chặng cuối cùng. KHÔNG phải lời khuyên các em ép xác, không phải bảo ai bỏ ăn bỏ ngủ mà học, mà tu.

xin nhớ chính Thế Tôn ĐÃ TỪ BỎ khổ hạnh ép xác trước khi thành đạo. Cái Ngài không bỏ là Ý CHÍ, không phải là hành hạ thân.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ hai pháp này rất hợp để nói với em nào VỪA LÀM ĐƯỢC MỘT VIỆC TỐT rồi thấy hài lòng dừng lại.

cũng hợp với em nào ĐANG MUỐN BỎ CUỘC. Một bài, hai bệnh.

Câu để hỏi, con nghĩ, là: “việc con đang làm dở — con dừng vì thấy ĐỦ RỒI, hay vì thấy MỆT?”

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mọi ô tiếng Việt của bài này đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với bản dịch của HT. Thích Minh Châucả bảy ô đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: phần tóm lược do trang soạn lúc đầu viết bài kinh này “nổi tiếng bậc nhất trong toàn bộ Tam Tạng”. Đó là nhận định của người soạn, KHÔNG kiểm chứng được từ nguồn nào, nên đã đổi lại cho khiêm tốn.

  • “Kinh dạy phải ép xác mà tu.” Lời “dù chỉ còn da, gân và xương”lời nguyện của bậc sắp thành đạo ở chặng cuối; và chính Thế Tôn ĐÃ TỪ BỎ khổ hạnh ép xác trước đó.
  • “Không biết đủ là tham.” Kinh nói không biết đủ ĐỐI VỚI THIỆN PHÁP. Còn “biết đủ” là đối với VẬT DỤNGhai chỗ khác nhau.
  • “Hai pháp ấy là một.” Pháp thứ nhất giữ cho ĐỪNG DỪNG; pháp thứ hai giữ cho ĐỪNG LÙIhai bệnh khác nhau.
  • “Đây là lời dạy cho các Tỷ-kheo.” Thế Tôn nói về CHÍNH MÌNH: hai pháp Ngài đã tự mình học được, biết được.
  • “Tinh cần nghĩa là làm cho nhiều.” Kinh nói KHÔNG THỐI CHUYỂNchuyện BỀN, không phải chuyện NHIỀU.
  • “Bài kinh nổi tiếng bậc nhất Tam Tạng.” Đó là câu trang tự viết, không kiểm chứng đượcđã bỏ.
  • Ngành Oanh. Một câu: “làm được việc tốt rồi thì đừng dừng, và đã bắt đầu thì đừng bỏ giữa chừng.”
  • Ngành Thiếu. Học hai pháp, và phân biệt “biết đủ với CỦA” — “không biết đủ với ĐỨC”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Xin dặn kỹ đoạn “da, gân và xương”đó KHÔNG phải lời khuyên ép xác. Hỏi: “con dừng vì thấy đủ rồi, hay vì thấy mệt?”
  • Hai pháp Thế Tôn tự mình học được là gì?
  • “Không biết đủ” ở đây là đối với cái gì?
  • Khác gì với chữ “biết đủ” quen thuộc?
  • Lời nguyện “da, gân và xương” là của ai, vào lúc nào?
  • Vì sao không được dạy đoạn ấy thành lời khuyên ép xác?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.