G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 26
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XXVI

Phẩm Bà-La-Môn

Brāhmaṇavagga — Pháp Cú kệ 383–423 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Bà-La-Môn

Phẩm cuối, và là phẩm dài nhất — 41 bài kệ. Nó làm đúng một việc, làm bốn mươi mốt lần: lấy chữ “Bà-la-môn” ra khỏi tay dòng dõi và trao cho việc làm. Trong xã hội Ấn Độ thời ấy, đây không phải một lời khuyên đạo đức — đây là một tuyên bố phá bỏ đẳng cấp.

  • Phẩm thứ hai mươi sáu, phẩm cuối của Kinh Pháp Cú. Gồm 41 bài kệ, từ số 383 đến 423 — phẩm dài nhất cả bộ.
  • Kệ 393 nói thẳng: không phải vì bện tóc, vì dòng họ, vì sanh chủng mà thành Bà-la-môn — mà vì chân thật và Chánh pháp.
  • Kệ 423, bài kệ cuối cùng của Kinh Pháp Cú, tả bậc đã viên mãn mọi thành tựu — biết đời trước, thấy thiên giới và đọa xứ, đạt sanh diệt tận.

Brāhmaṇa thời ấy là đẳng cấp cao nhất trong xã hội Ấn Độ, và là đẳng cấp do sinh ra mà có. Đức Phật không bỏ chữ ấy đi — Ngài giữ nguyên chữ, rồi đổi hẳn điều kiện. Cách làm này sắc hơn việc bác bỏ: để nguyên cái danh mà mọi người thèm muốn, rồi nói rằng nó thuộc về người khác hẳn.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
brāhmaṇaBà-la-môn — bậc thanh tịnhsuốt phẩm
na jaṭāhi na gottenakhông do bện tóc, không do dòng họ393
na jaccākhông do sanh chủng393, 396
yonijasinh ra từ bụng mẹ396
akiñcanangười không còn gì là của mình396, 421
sotaṁ chindahãy cắt đứt dòng (ái)383
saṅgatrói buộc397, 398
pubbenivāsađời sống quá khứ423

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

383
Pasādabahulabrāhmaṇavatthu — Chuyện vị Bà-la-môn có nhiều lòng tịnh tín
Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Saṅkhārānaṁ khayaṁ ñatvā,
akataññūsi brāhmaṇa.
Hỡi này Bà-la-môn,
Hãy tinh tấn đoạn dòng,
Từ bỏ các dục lạc,
Biết được hành đoạn diệt,
Ngươi là bậc vô vi.
Cut the stream, striving! Cast aside sensual pleasures, brahmin. Knowing the ending of conditions, know the uncreated, brahmin.
384
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Yadā dvayesu dhammesu,
pāragū hoti brāhmaṇo;
Athassa sabbe saṁyogā,
atthaṁ gacchanti jānato.
Nhờ thường trú hai pháp
Đến được bờ bên kia.
Bà-la-môn có trí,
Mọi kiết sử dứt sạch.
When a brahmin has gone beyond dualistic phenomena, then they consciously make an end of all fetters.
385
Māravatthu — Chuyện Ác ma (Māra)
Yassa pāraṁ apāraṁ vā,
pārāpāraṁ na vijjati;
Vītaddaraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Không bờ này, bờ kia
Cả hai bờ không có,
Lìa khổ, không trói buộc
Ta gọi Bà-la-môn.
One for whom there is no crossing over or crossing back, or crossing over and back; stress-free, detached, that’s who I declare a brahmin.
386
Aññatarabrāhmaṇavatthu — Chuyện một vị Bà-la-môn
Jhāyiṁ virajamāsīnaṁ,
katakiccamanāsavaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Tu thiền, trú ly trần
Phận sự xong, vô lậu,
Đạt được đích tối thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Absorbed, rid of hopes, their task completed, without defilements, arrived at the highest goal: that’s who I declare a brahmin.
387
Ānandattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Ānanda
Divā tapati ādicco,
rattimābhāti candimā;
Sannaddho khattiyo tapati,
jhāyī tapati brāhmaṇo;
Atha sabbamahorattiṁ,
buddho tapati tejasā.
Mặt trời sáng ban ngày,
Mặt trăng sáng ban đêm.
Khí giới sáng Sát-lỵ,
Thiền định sáng Phạm chí.
Còn hào quang đức Phật,
Chói sáng cả ngày đêm.
The sun blazes by day, the moon radiates at night, the aristocrat shines in armor, and the brahmin shines in absorption. But all day and all night, the Buddha blazes with glory.
388
Aññatarabrāhmaṇapabbajitavatthu — Chuyện một Bà-la-môn xuất gia
Bāhitapāpoti brāhmaṇo,
Samacariyā samaṇoti vuccati;
Pabbājayamattano malaṁ,
Tasmā “pabbajito”ti vuccati.
Dứt ác gọi Phạm chí,
Tịnh hạnh gọi Sa môn,
Tự mình xuất cấu uế,
Nên gọi bậc xuất gia.
A brahmin’s so-called since they’ve banished evil, an ascetic’s so-called since they live a serene life. One who has renounced all stains is said to be a “renunciant”.
389
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sāriputta
Na brāhmaṇassa pahareyya,
nāssa muñcetha brāhmaṇo;
Dhī brāhmaṇassa hantāraṁ,
tato dhī yassa muñcati.
Chớ có đập Phạm chí!
Phạm chí chớ đập lại!
Xấu thay đập Phạm chí
Đập trả lại, xấu hơn.
One should never strike a brahmin, nor should a brahmin retaliate. Woe to the one who hurts a brahmin, and woe for the one who retaliates.
390
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sāriputta (tiếp theo kệ 389)
Na brāhmaṇassetadakiñci seyyo,
Yadā nisedho manaso piyehi;
Yato yato hiṁsamano nivattati,
Tato tato sammatimeva dukkhaṁ.
Đối với Bà-la-môn,
Đây không lợi ích nhỏ.
Khi ý không ái luyến,
Tâm hại được chận đứng,
Chỉ khi ấy khổ diệt.
Nothing is better for a brahmin than to hold their mind back from attachment. From wherever a cruel wish recoils, right there suffering subsides.
391
Mahāpajāpatigotamīvatthu — Chuyện bà Mahāpajāpatī Gotamī
Yassa kāyena vācāya,
manasā natthi dukkaṭaṁ;
Saṁvutaṁ tīhi ṭhānehi,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Với người thân miệng ý,
Không làm các ác hạnh
Ba nghiệp được phòng hộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Who does nothing wrong by body, speech or mind, restrained in these three respects, that’s who I declare a brahmin.
392
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sāriputta
Yamhā dhammaṁ vijāneyya,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sakkaccaṁ taṁ namasseyya,
aggihuttaṁva brāhmaṇo.
Từ ai, biết chánh pháp
Bậc Chánh Giác thuyết giảng,
Hãy kính lễ vị ấy,
Như Phạm chí thờ lửa.
You should graciously honor the one from whom you learn the Dhamma taught by the awakened Buddha, as a brahmin honors the sacred flame.
393
Jaṭilabrāhmaṇavatthu — Chuyện vị Bà-la-môn bện tóc
Na jaṭāhi na gottena,
na jaccā hoti brāhmaṇo;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo.
Được gọi Bà-la-môn,
Không vì đầu bện tóc,
Không chủng tộc, thọ sanh,
Ai thật chân, chánh, tịnh,
Mới gọi Bà-la-môn.
Not by matted hair or family, or birth is one a brahmin. Those who are truthful and principled: they are pure, they are brahmins.
394
Kuhakabrāhmaṇavatthu — Chuyện vị Bà-la-môn lừa dối
Kiṁ te jaṭāhi dummedha,
kiṁ te ajinasāṭiyā;
Abbhantaraṁ te gahanaṁ,
bāhiraṁ parimajjasi.
Kẻ ngu, có ích gì
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền não,
Ngoài mặt đánh bóng suông.
Why the matted hair, you simpleton, and why the skin of deer? The tangle is inside you, yet you polish up your outsides.
395
Kisāgotamīvatthu — Chuyện bà Kisāgotamī
Paṁsukūladharaṁ jantuṁ,
kisaṁ dhamanisanthataṁ;
Ekaṁ vanasmiṁ jhāyantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người mặc áo đống rác,
Gầy ốm, lộ mạch gân,
Độc thân thiền trong rừng.
Ta gọi Bà-la-môn.
A personage who wears robes of rags, lean, their limbs showing veins, meditating alone in the forest, that’s who I declare a brahmin.
396
Ekabrāhmaṇavatthu — Chuyện một vị Bà-la-môn
Na cāhaṁ brāhmaṇaṁ brūmi,
yonijaṁ mattisambhavaṁ;
Bhovādi nāma so hoti,
sace hoti sakiñcano;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ta không gọi Phạm chí,
Vì chỗ sanh, mẹ sanh.
Chỉ được gọi tên suông
Nếu tâm còn phiền não.
Không phiền não, chấp trước
Ta gọi Bà-la-môn.
I don’t call someone a brahmin after the mother’s womb they’re born from. If they still have attachments, they’re just someone who says “worthy”. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
397
Uggasenaseṭṭhiputtavatthu — Chuyện Uggasena, con trai vị trưởng giả
Sabbasaṁyojanaṁ chetvā,
yo ve na paritassati;
Saṅgātigaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Đoạn hết các kiết sử,
Không còn gì lo sợ
Không đắm trước buộc ràng
Ta gọi Bà-la-môn.
Having cut off all fetters they have no anxiety. They’ve slipped their chains and are detached: that’s who I declare a brahmin.
398
Dvebrāhmaṇavatthu — Chuyện hai vị Bà-la-môn
Chetvā naddhiṁ varattañca,
sandānaṁ sahanukkamaṁ;
Ukkhittapalighaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Bỏ đai da, bỏ cương
Bỏ dây, đồ sở thuộc,
Bỏ then chốt, sáng suốt,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve cut the strap and harness, the halter and bridle too, with cross-bar lifted, they’re awakened: that’s who I declare a brahmin.
399
Akkosakabhāradvājavatthu — Chuyện Bà-la-môn Akkosaka Bhāradvāja
Akkosaṁ vadhabandhañca,
aduṭṭho yo titikkhati;
Khantībalaṁ balānīkaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Không ác ý, nhẫn chịu,
Phỉ báng, đánh, phạt hình,
Lấy nhẫn làm quân lực,
Ta gọi Bà-la-môn.
Abuse, killing, caging: they endure these without anger. Patience is their powerful army: that’s who I declare a brahmin.
400
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sāriputta
Akkodhanaṁ vatavantaṁ,
sīlavantaṁ anussadaṁ;
Dantaṁ antimasārīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Không hận, hết bổn phận,
Trì giới, không tham ái,
Nhiếp phục, thân cuối cùng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Not irritable or pretentious, dutiful in precepts and observances, tamed, bearing their final body: that’s who I declare a brahmin.
401
Uppalavaṇṇāttherīvatthu — Chuyện Trưởng lão Ni Uppalavaṇṇā
Vāri pokkharapatteva,
āraggeriva sāsapo;
Yo na limpati kāmesu,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Như nước trên lá sen,
Như hột cải đầu kim,
Người không nhiễm ái dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Like water from a lotus leaf, like a mustard seed off the point of a pin, sensual pleasures slip off them: that’s who I declare a brahmin.
402
Aññatarabrāhmaṇavatthu — Chuyện một vị Bà-la-môn
Yo dukkhassa pajānāti,
idheva khayamattano;
Pannabhāraṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai tự trên đời này,
Giác khổ, diệt trừ khổ,
Bỏ gánh nặng, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
They understand for themselves the end of suffering in this life; with burden put down, detached: that’s who I declare a brahmin.
403
Khemābhikkhunīvatthu — Chuyện Tỳ-kheo Ni Khemā
Gambhīrapaññaṁ medhāviṁ,
maggāmaggassa kovidaṁ;
Uttamatthamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người trí tuệ sâu xa,
Khéo biết đạo, phi đạo
Chứng đạt đích vô thượng,
Ta gọi Bà-la-môn.
Deep in wisdom, intelligent, expert in the path and what is not the path; arrived at the highest goal: that’s who I declare a brahmin.
404
Pabbhāravāsitissattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Tissa sống trong hang núi
Asaṁsaṭṭhaṁ gahaṭṭhehi,
anāgārehi cūbhayaṁ;
Anokasārimappicchaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Không liên hệ cả hai,
Xuất gia và thế tục,
Sống độc thân, ít dục,
Ta gọi Bà-la-môn.
Mixing with neither householders nor the homeless; a migrant with no bastion, few in wishes: that’s who I declare a brahmin.
405
Aññatarabhikkhuvatthu — Chuyện một vị Tỳ-kheo
Nidhāya daṇḍaṁ bhūtesu,
tasesu thāvaresu ca;
Yo na hanti na ghāteti,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Bỏ trượng, đối chúng sanh,
Yếu kém hay kiên cường,
Không giết, không bảo giết,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve laid aside violence against creatures firm and frail; not killing or making others kill: that’s who I declare a brahmin.
406
Sāmaṇerānaṁvatthu — Chuyện các vị Sa-di
Aviruddhaṁ viruddhesu,
attadaṇḍesu nibbutaṁ;
Sādānesu anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Thân thiện giữa thù địch
Ôn hòa giữa hung hăng.
Không nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta gọi Bà-la-môn.
Not fighting among those who fight, quenched among those who have taken up arms, not grasping among those who grasp: that’s who I declare a brahmin.
407
Mahāpanthakattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Mahāpanthaka
Yassa rāgo ca doso ca,
māno makkho ca pātito;
Sāsaporiva āraggā,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người bỏ rơi tham sân,
Không mạn không ganh tị,
Như hột cải đầu kim,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve discarded greed and hate, along with conceit and contempt, like a mustard seed off the point of a pin: that’s who I declare a brahmin.
408
Pilindavacchattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Pilindavaccha
Akakkasaṁ viññāpaniṁ,
giraṁ saccamudīraye;
Yāya nābhisaje kañci,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Nói lên lời ôn hòa,
Lợi ích và chân thật,
Không mất lòng một ai,
Ta gọi Bà-la-môn.
The words they utter are polished, informative, and true, and don’t offend anyone: that’s who I declare a brahmin.
409
Aññatarattheravatthu — Chuyện một vị Trưởng lão
Yodha dīghaṁ va rassaṁ vā,
aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ;
Loke adinnaṁ nādiyati,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ở đời, vật dài, ngắn,
Nhỏ, lớn, đẹp hay xấu
Phàm không cho không lấy,
Ta gọi Bà-la-môn.
They don’t steal anything in the world, long or short, tiny or huge, beautiful or ugly: that’s who I declare a brahmin.
410
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sāriputta
Āsā yassa na vijjanti,
asmiṁ loke paramhi ca;
Nirāsāsaṁ visaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người không có hy cầu,
Đời này và đời sau,
Không hy cầu, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
They have no hope in this world or the next; with no need for hope, detached: that’s who I declare a brahmin.
411
Mahāmoggallānattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Mahāmoggallāna
Yassālayā na vijjanti,
aññāya akathaṅkathī;
Amatogadhamanuppattaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người không còn tham ái,
Có trí, không nghi hoặc,
Thể nhập vào bất tử,
Ta gọi Bà-la-môn.
They have no clinging, knowledge has freed them of indecision, they’ve arrived at the objective, freedom from death: that’s who I declare a brahmin.
412
Revatattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Revata
Yodha puññañca pāpañca,
ubho saṅgamupaccagā;
Asokaṁ virajaṁ suddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Người sống ở đời này
Không nhiễm cả thiện ác,
Không sầu, sạch không bụi
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve escaped the chain of both good and bad deeds; sorrowless, stainless, pure: that’s who I declare a brahmin.
413
Candābhattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Candābha
Candaṁva vimalaṁ suddhaṁ,
vippasannamanāvilaṁ;
Nandībhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Như trăng, sạch không uế
Sáng trong và tịnh lặng,
Hữu ái, được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
Pure as the spotless moon, clear and unclouded, they’ve ended relish for rebirth: that’s who I declare a brahmin.
414
Sīvalittheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sīvali
Yomaṁ palipathaṁ duggaṁ,
saṁsāraṁ mohamaccagā;
Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī,
anejo akathaṅkathī;
Anupādāya nibbuto,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Vượt đường nguy hiểm này,
Nhiếp phục luân hồi, si,
Đến bờ kia thiền định
Không dục ái, không nghi,
Không chấp trước, tịch tịnh,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve got past this grueling swamp of delusion, transmigration. Meditating in stillness, free of indecision, they have crossed over to the far shore. They’re quenched by not grasping: that’s who I declare a brahmin.
415
Sundarasamuddattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sundarasamudda
Yodha kāme pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Kāmabhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai ở đời, đoạn dục,
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Dục hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve given up sensual pleasures, and have gone forth from lay life; they’ve ended rebirth in the sensual realm: that’s who I declare a brahmin.
416
Jaṭilattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Jaṭila (và Jotikattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Jotika)
Yodha taṇhaṁ pahantvāna,
anāgāro paribbaje;
Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai ở đời đoạn ái
Bỏ nhà, sống xuất gia,
Ái hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve given up craving, and have gone forth from lay life; they’ve ended craving to be reborn: that’s who I declare a brahmin.
417
Naṭaputtakattheravatthu — Chuyện Trưởng lão vốn là con nhà làm trò (kịch sĩ)
Hitvā mānusakaṁ yogaṁ,
dibbaṁ yogaṁ upaccagā;
Sabbayogavisaṁyuttaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Bỏ trói buộc loài Người,
Vượt trói buộc cõi trời.
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà-la-môn.
They’ve thrown off the human yoke, and slipped out of the heavenly yoke; unyoked from all yokes: that’s who I declare a brahmin.
418
Naṭaputtakattheravatthu — Chuyện Trưởng lão vốn là con nhà làm trò (kịch sĩ)
Hitvā ratiñca aratiñca,
sītibhūtaṁ nirūpadhiṁ;
Sabbalokābhibhuṁ vīraṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Bỏ điều ưa, điều ghét,
Mát lạnh, diệt sanh y
Bậc anh hùng chiến thắng,
Nhiếp phục mọi thế giới,
Ta gọi Bà-la-môn.
Giving up desire and discontent, they’re cooled and free of attachments; a hero, master of the whole world: that’s who I declare a brahmin.
419
Vaṅgīsattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Vaṅgīsa
Cutiṁ yo vedi sattānaṁ,
upapattiñca sabbaso;
Asattaṁ sugataṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai hiểu rõ hoàn toàn
Sanh tử các chúng sanh,
Không nhiễm, khéo vượt qua,
Sáng suốt chân giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
They know the passing away and rebirth of all beings; unattached, holy, awakened: that’s who I declare a brahmin.
420
Vaṅgīsattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Vaṅgīsa (tiếp theo kệ 419)
Yassa gatiṁ na jānanti,
devā gandhabbamānusā;
Khīṇāsavaṁ arahantaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Với ai, loài Trời, Người,
Cùng với Càn-thát-bà,
Không biết chỗ thọ sanh,
Lậu tận bậc La-hán.
Ta gọi Bà-la-môn.
Gods, centaurs, and humans don’t know their destiny; the perfected ones with defilements ended: that’s who I declare a brahmin.
421
Dhammadinnāttherīvatthu — Chuyện Trưởng lão Ni Dhammadinnā
Yassa pure ca pacchā ca,
majjhe ca natthi kiñcanaṁ;
Akiñcanaṁ anādānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai quá, hiện, vị lai
Không một sở hữu gì,
Không sở hữu không nắm,
Ta gọi Bà-la-môn.
They have nothing before or after, or even in between. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
422
Aṅgulimālattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Aṅgulimāla
Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ,
mahesiṁ vijitāvinaṁ;
Anejaṁ nhātakaṁ buddhaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Bậc trâu chúa, thù thắng
Bậc anh hùng, đại sĩ,
Bậc chiến thắng, không nhiễm,
Bậc tẩy sạch, giác ngộ,
Ta gọi Bà-la-môn.
Captain of the herd, excellent hero, great seer and victor; unstirred, washed, awakened: that’s who I declare a brahmin.
423
Devahitabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Devahita
Pubbenivāsaṁ yo vedi,
saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṁ patto,
abhiññāvosito muni;
Sabbavositavosānaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Ai biết được đời trước,
Thấy thiên giới, đọa xứ,
Đạt được sanh diệt tận
Thắng trí, tự viên thành
Bậc mâu ni đạo sĩ.
Viên mãn mọi thành tựu
Ta gọi Bà-la-môn.
One who knows their past lives, sees heaven and places of loss, and has attained the end of rebirth; a sage of perfect insight at the summit of spiritual perfection: that’s who I declare a brahmin.

Cả phẩm là một câu lặp lại 41 lần. Ta gọi người ấy là Bà-la-môn — và mỗi lần, điều kiện đứng trước lại khác: người bỏ dòng ái, người không sân, người nhẫn nhục, người không dính mắc, người biết khổ đã tận. Không một lần nào điều kiện ấy là dòng dõi.

Kệ 393 — bài kệ then chốt. “Không phải vì bện tóc, không phải vì dòng họ, không phải vì sanh chủng.” Ba thứ ấy là ba thứ người ta nhìn thấy được: hình thức tu hành, gia thế, huyết thống. Bài kệ gạt cả ba, rồi đặt vào chỗ đó: chân thật và Chánh pháp.

Kệ 396 — chỗ nói nặng nhất. “Ta không gọi Bà-la-môn vì sinh ra từ bụng mẹ.” Chữ yonija rất trần trụi, và cố ý trần trụi. Sinh ra ở đâu là điều không ai chọn được — nên nó không thể là thước đo giá trị một con người. Đây là điều Gia Đình Phật Tử cần dạy các em cho rõ.

Kệ 383 — bài mở phẩm, và một chỗ chữ nghĩa. “Hãy tinh tấn đoạn dòng” — Pāli là chinda sotaṁ, cắt đứt dòng chảy, tức dòng ái. Có bản chép nhầm thành “đoạn lòng”, sai hẳn nghĩa. Chúng tôi đã đối chiếu Pāli và giữ chữ “dòng”.

Kệ 423 — bài kệ cuối cùng của cả bộ kinh. Sau 423 bài, Kinh Pháp Cú không kết bằng một lời răn hay một lời hứa. Nó kết bằng bức chân dung của một người đã đi hết đường: biết đời trước, thấy các cõi, dứt sanh tử, viên mãn mọi thành tựu. Bộ kinh mở đầu bằng “tâm dẫn đầu các pháp” và kết thúc ở đây.

Ta không gọi Bà-la-môn, vì sinh ra từ bụng mẹ.
  • “Bà-la-môn là người theo đạo Bà-la-môn.” Trong phẩm này, chữ ấy được định nghĩa lại hoàn toàn — chỉ người đã thanh tịnh, bất kể sinh ra ở đâu.
  • “Phẩm này chê đạo khác.”không bỏ chữ của họ, cũng không chê người. Nó chỉ nói: cái danh ấy thuộc về việc làm, không thuộc về dòng dõi.
  • “Kệ 393 chê người bện tóc.” Bài kệ không chê hình thức nào cả. Nó chỉ nói hình thức không tự nó làm nên — giống kệ 141 ở Phẩm Hình Phạt.
  • “41 bài kệ là lặp lại thừa.” Sự lặp lại chính là lập luận: mỗi lần lặp là một điều kiện mới, và không lần nào là dòng dõi.
  • Ngành Oanh. Kệ 393, rút thành một câu: không phải sinh ra ở đâu, mà làm gì, mới quý. Hỏi: bạn tốt là bạn giàu hay bạn tử tế?
  • Ngành Thiếu. Kệ 396. Đây là bài kệ hợp nhất để nói về chuyện phân biệt đối xử — trong lớp, trong xóm, và ở đất nước mình đang sống.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc cả phẩm và đếm: 41 điều kiện, không một điều nào là dòng dõi. Bàn: cách phá bỏ đẳng cấp của Đức Phật là giữ chữ mà đổi điều kiện — vì sao cách ấy hiệu quả hơn là bác bỏ?
  • Vì sao Đức Phật giữ chữ “Bà-la-môn” thay vì bỏ hẳn?
  • Kệ 396 nói nơi sinh ra không làm nên giá trị. Ngày nay người ta còn phân biệt bằng những gì?
  • Kệ 393 gạt bỏ ba thứ nhìn thấy được. Trong đoàn mình có “ba thứ” nào tương tự không?
  • Kinh mở đầu bằng “tâm dẫn đầu các pháp” và kết ở kệ 423. Em thấy hai đầu ấy nối với nhau thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: bản tiếng Việt ở đây lấy từ tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net (thư mục translation/vi), rồi đối chiếu từng dòng với nguyên văn Pāli và với nhiều bản Việt ngữ khác. Tệp gốc ấy là bản số hoá nên vẫn còn một ít lỗi gõ; chỗ nào hai bản khác nhau, chúng tôi đều tra lại Pāli để phân định, và chỗ nào không phân định được thì ghi rõ ngay trên trang chứ không chọn bừa. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.