G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 25
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XXV

Phẩm Tỷ-Kheo

Bhikkhuvagga — Pháp Cú kệ 360–382 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Tỷ-Kheo

Phẩm này nói với người xuất gia, nhưng không chỉ dành cho người xuất gia. Kệ 372 nêu một câu mà bất cứ ai tu tập cũng phải đối diện: không có thiền nếu không có trí, không có trí nếu không có thiền — hai thứ ấy không rời nhau được.

  • Phẩm thứ hai mươi lăm của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 23 bài kệ, từ số 360 đến 382.
  • Hai kệ mở đầu 360–361 đi thành cặp, kể ra sáu chỗ cần phòng hộ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
  • Kệ 377 mượn hình ảnh hoa nhài rụng — hoa vassika tự buông cánh đã héo, không đợi ai hái.

Bhikkhu nghĩa đen là người khất thực, người xin ăn. Nhưng kệ 266–267 ở Phẩm Pháp Trụ đã nói rõ: chỉ đi xin thì chưa phải Tỷ-kheo. Ở phẩm này, chữ ấy được định nghĩa bằng việc làm: phòng hộ sáu căn, tát nước khỏi thuyền, cắt đứt trói buộc, tự mình sách tấn mình.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
bhikkhuTỷ-kheo, người khất thựcsuốt phẩm
saṁvaraphòng hộ, chế ngự360, 361
siñca imaṁ nāvaṁhãy tát chiếc thuyền này369
saṅgatrói buộc, dính mắc370
jhāna / paññāthiền / tuệ372
vassikahoa nhài vassika377
attanā codayattānaṁtự mình sách tấn mình379
pītiṁ labhethađược niềm hỷ381

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

360
Pañcabhikkhuvatthu — Chuyện năm vị Tỳ-kheo
Cakkhunā saṁvaro sādhu,
sādhu sotena saṁvaro;
Ghānena saṁvaro sādhu,
sādhu jivhāya saṁvaro.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Restraint of the eye is good; good is restraint of the ear; restraint of the nose is good; good is restraint of the tongue.
361
Pañcabhikkhuvatthu — Chuyện năm vị Tỳ-kheo
Kāyena saṁvaro sādhu,
sādhu vācāya saṁvaro;
Manasā saṁvaro sādhu,
sādhu sabbattha saṁvaro;
Sabbattha saṁvuto bhikkhu,
sabbadukkhā pamuccati.
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
Restraint of the body is good; good is restraint of speech; restraint of mind is good; everywhere, restraint is good. The mendicant restrained everywhere is released from all suffering.
362
Haṁsaghātakabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo giết chim nhạn
Hatthasaṁyato pādasaṁyato,
Vācāsaṁyato saṁyatuttamo;
Ajjhattarato samāhito,
Eko santusito tamāhu bhikkhuṁ.
Người chế ngự tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nội thiền định.
Độc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi tỷ kheo.
One restrained in hand and foot, and in speech, the supreme restraint; happy inside, serene, solitary, content, I call a mendicant.
363
Kokālikavatthu — Chuyện Tỳ-kheo Kokālika
Yo mukhasaṁyato bhikkhu,
mantabhāṇī anuddhato;
Atthaṁ dhammañca dīpeti,
madhuraṁ tassa bhāsitaṁ.
Tỷ-kheo chế ngự miệng,
Vừa lời, không cống cao,
Khi trình bày pháp nghĩa,
Lời lẽ dịu ngọt ngào.
When a mendicant of restrained mouth, thoughtful in counsel, not restless, explains the text and its meaning, their words are sweet.
364
Dhammārāmattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Dhammārāma
Dhammārāmo dhammarato,
dhammaṁ anuvicintayaṁ;
Dhammaṁ anussaraṁ bhikkhu,
saddhammā na parihāyati.
Vị tỷ kheo thích pháp,
Mến pháp, suy tư Pháp.
Tâm tư niệm chánh Pháp,
Không rời bỏ chánh Pháp.
Delighting in the teaching, enjoying the teaching, contemplating the teaching, a mendicant who recollects the teaching doesn't fall away from the true teaching.
365
Vipakkhasevakabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo thân cận phe đối nghịch
Salābhaṁ nātimaññeyya,
nāññesaṁ pihayaṁ care;
Aññesaṁ pihayaṁ bhikkhu,
samādhiṁ nādhigacchati.
Không khinh điều mình được,
Không ganh người khác được
Tỷ-kheo ganh tị người,
Không sao chứng Thiền Định.
A well-off mendicant ought not look down on others, nor should they be envious. A mendicant who envies others does not achieve immersion.
366
Vipakkhasevakabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo thân cận phe đối nghịch
Appalābhopi ce bhikkhu,
salābhaṁ nātimaññati;
Taṁ ve devā pasaṁsanti,
suddhājīviṁ atanditaṁ.
Tỷ-kheo dầu được ít,
Không khinh điều mình được,
Sống thanh tịnh không nhác,
Chư thiên khen vị này.
If a mendicant is poor in offerings, the well-to-do ought not look down on them. For the gods indeed praise them, who are tireless and pure of livelihood.
367
Pañcaggadāyakabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn cúng dường năm phần đầu
Sabbaso nāmarūpasmiṁ,
yassa natthi mamāyitaṁ;
Asatā ca na socati,
sa ve “bhikkhū”ti vuccati.
Hoàn toàn, đối danh sắc,
Không chấp Ta, của Ta.
Không chấp, không sầu não.
Thật xứng danh Tỷ-kheo.
One who has no sense of ownership in the whole realm of name and form, who does not grieve for that which is not, is said to be a mendicant.
368
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Mettāvihārī yo bhikkhu,
pasanno buddhasāsane;
Adhigacche padaṁ santaṁ,
saṅkhārūpasamaṁ sukhaṁ.
Tỷ-kheo trú từ bi,
Tín thành giáo Pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh.
Các hạnh an tịnh lạc.
A mendicant who meditates on love, devoted to the Buddha's teaching, would realize the peaceful state, the blissful stilling of conditions.
369
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Siñca bhikkhu imaṁ nāvaṁ,
sittā te lahumessati;
Chetvā rāgañca dosañca,
tato nibbānamehisi.
Tỷ-kheo, tát thuyền này,
Thuyền không, nhẹ đi mau.
Trừ tham, diệt sân hận,
Tất chứng đạt Niết-Bàn.
Bail out this boat, mendicant! When bailed out it will float lightly. Having cut off desire and hate, you shall reach extinguishment.
370
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Pañca chinde pañca jahe,
pañca cuttari bhāvaye;
Pañca saṅgātigo bhikkhu,
“oghatiṇṇo”ti vuccati.
Đoạn năm, từ bỏ năm
Tu tập năm tối thượng
Tỷ-kheo cắt năm trói
Xứng danh "Vượt bộc lưu".
Five to cut, five to drop, and five more to develop. When a mendicant slips five chains they're said to have crossed the flood.
371
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Jhāya bhikkhu mā pamādo,
Mā te kāmaguṇe ramessu cittaṁ;
Mā lohaguḷaṁ gilī pamatto,
Mā kandi “dukkhamidan”ti dayhamāno.
Tỷ-kheo, hãy tu thiền,
Chớ buông lung phóng dật,
Tâm chớ đắm say dục,
Phóng dật, nuốt sắt nóng
Bị đốt, chớ than khổ!
Practice absorption, don't be negligent! Don't let the mind delight in the senses! Don't heedlessly swallow a hot iron ball! And when it burns, don't cry, "Oh, the pain!"
372
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Natthi jhānaṁ apaññassa,
paññā natthi ajhāyato;
Yamhi jhānañca paññā ca,
sa ve nibbānasantike.
Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-Bàn.
No absorption for one without wisdom, no wisdom for one without absorption. But one with absorption and wisdom— they have truly drawn near to extinguishment.
373
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Suññāgāraṁ paviṭṭhassa,
santacittassa bhikkhuno;
Amānusī rati hoti,
sammā dhammaṁ vipassato.
Bước vào ngôi nhà trống,
Tỷ-kheo tâm an tịnh,
Thọ hưởng vui siêu nhân
Tịnh quán theo chánh pháp.
A mendicant who enters an empty hut with mind at peace finds a superhuman delight as they rightly discern the Dhamma.
374
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Yato yato sammasati,
khandhānaṁ udayabbayaṁ;
Labhatī pītipāmojjaṁ,
amataṁ taṁ vijānataṁ.
Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Được hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết.
Whenever they are mindful of the rise and fall of the aggregates, they feel rapture and joy: that is freedom from death for one who knows.
375
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Tatrāyamādi bhavati,
idha paññassa bhikkhuno;
Indriyagutti santuṭṭhi,
pātimokkhe ca saṁvaro.
Đây Tỷ-kheo có trí,
Tu tập pháp căn bản
Hộ căn, biết vừa đủ,
Giữ gìn căn bản giới.
This is the very start of the path for a wise mendicant here: guarding the senses, contentment, and restraint in the monastic code.
376
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Mitte bhajassu kalyāṇe,
suddhājīve atandite;
Paṭisanthāravutyassa,
ācārakusalo siyā;
Tato pāmojjabahulo,
dukkhassantaṁ karissati.
Thường gần gũi bạn lành,
Sống thanh tịnh tinh cần.
Giao thiệp khéo thân thiện,
Cử chỉ mực đoan trang.
Do vậy hưởng vui nhiều,
Sẽ dứt mọi khổ đau.
Mix with spiritual friends, who are tireless and pure of livelihood. Share what you have with others, being skillful in your conduct. And when you're full of joy, you'll make an end to suffering.
377
Pañcasatabhikkhuvatthu — Chuyện năm trăm vị Tỳ-kheo
Vassikā viya pupphāni,
maddavāni pamuñcati;
Evaṁ rāgañca dosañca,
vippamuñcetha bhikkhavo.
Như hoa Vassikà,
Quăng bỏ cánh úa tàn,
Cũng vậy vị Tỷ-kheo,
Hãy giải thoát tham sân.
As a jasmine sheds its withered flowers, O mendicants, shed greed and hate.
378
Santakāyattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Santakāya
Santakāyo santavāco,
santavā susamāhito;
Vantalokāmiso bhikkhu,
“upasanto”ti vuccati.
Thân tịnh, lời an tịnh,
An tịnh, khéo thiền tịnh.
Tỷ-kheo bỏ thế vật,
Xứng danh "bậc tịch tịnh".
Calm in body, calm in speech, peaceful and serene; a mendicant who's spat out the world's bait is said to be one at peace.
379
Naṅgalakulattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Naṅgalakula
Attanā codayattānaṁ,
paṭimaṁsetha attanā;
So attagutto satimā,
sukhaṁ bhikkhu vihāhisi.
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
Urge yourself on, reflect on yourself. A mendicant self-controlled and mindful will always dwell in happiness.
380
Naṅgalakulattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Naṅgalakula
Attā hi attano nātho,
ko hi nātho paro siyā;
Attā hi attano gati,
tasmā saṁyamamattānaṁ;
Assaṁ bhadraṁva vāṇijo.
Tự mình y chỉ mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền.
Self is indeed the lord of self, for who else would be one's lord? Self is indeed the home of self, so restrain yourself, as a merchant his thoroughbred steed.
381
Vakkalittheravatthu — Chuyện Trưởng lão Vakkali
Pāmojjabahulo bhikkhu,
pasanno buddhasāsane;
Adhigacche padaṁ santaṁ,
saṅkhārūpasamaṁ sukhaṁ.
Tỷ-kheo nhiều hân hoan,
Tịnh tín giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc.
A monk full of joy trusting in the Buddha's teaching, would realize the peaceful state, the blissful stilling of conditions.
382
Sumanasāmaṇeravatthu — Chuyện Sa-di Sumana
Yo have daharo bhikkhu,
yuñjati buddhasāsane;
Somaṁ lokaṁ pabhāseti,
abbhā muttova candimā.
Tỷ-kheo tuy tuổi nhỏ
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi mây.
A young mendicant devoted to the Buddha's teaching, shines upon this world, like the moon freed from clouds.

Kệ 369 — tát nước khỏi thuyền. “Tỷ-kheo, hãy tát chiếc thuyền này. Thuyền vơi thì đi nhanh.” Hình ảnh rất cụ thể: thuyền không chìm vì sóng lớn, nó chìm vì nước đọng bên trong. Bài kệ nói tiếp phải đoạn tham và sân — đó chính là nước cần tát. Việc tu ở đây không phải thêm vào, mà là bớt ra.

Kệ 372 — câu quan trọng nhất phẩm. Không trí tuệ, không thiền; không thiền, không trí tuệ. Kinh chặn cả hai ngả sai: ngồi thiền mà không hiểu thì không tới đâu; hiểu nhiều mà không hành thì cũng không tới đâu. Hai thứ ấy nuôi nhau, không thay nhau được.

Kệ 377 — hoa nhài tự rụng. Cây vassika tự buông những cánh đã héo. Chú ý chỗ này: không ai bứt hoa cả — cây tự buông. Bài kệ bảo hãy đoạn tham sân như vậy: không phải giằng ra, mà là để rụng khi đã tới lúc.

Kệ 379–380 — tự mình sách tấn mình. “Tự mình quở trách mình, tự mình dò xét mình.” Rồi kệ 380: tự mình y chỉ mình, nào có y chỉ khác. Đây là chỗ nối thẳng với Phẩm Tự Ngã. Trong một đời sống có thầy, có chúng, có giới luật, kinh vẫn đặt trách nhiệm cuối cùng ở chính người ấy.

Kệ 370 — một chỗ chữ nghĩa cần thưa. Dòng ba: “Tỷ-kheo cắt năm trói”. Có bản chép là “vượt năm ái”, nhưng Pāli là pañca saṅgātigosaṅgatrói buộc, không phải ái (ái là taṇhā, chữ khác hẳn). Năm trói buộc ấy là tham, sân, si, mạn, tà kiến. Chúng tôi đã đối chiếu Pāli và giữ chữ “cắt năm trói”.

Không trí tuệ, không thiền; không thiền, không trí tuệ.
  • “Phẩm này chỉ dành cho người xuất gia.” Kệ 372 nói về thiền và tuệ — việc của bất cứ ai tu tập. Kệ 379 nói về việc tự dò xét mình, cũng vậy.
  • “Tu là thêm vào.” Kệ 369 nói ngược: tát nước ra thì thuyền mới nhẹ. Phần lớn phẩm này nói về việc bớt.
  • “Ngồi thiền nhiều là đủ.” Kệ 372 chặn ngay: không trí thì không có thiền. Và ngược lại cũng vậy.
  • “Đoạn tham sân là giằng bỏ cho bằng được.” Kệ 377 dùng hình ảnh hoa tự rụng, không phải hoa bị bứt.
  • Ngành Oanh. Kệ 369, dạy bằng chậu nước và cái ly: thuyền có nước thì nặng, tát ra thì nhẹ. Hỏi: trong lòng em có “nước” gì nặng không?
  • Ngành Thiếu. Kệ 377 và hoa tự rụng. Hỏi: có khi nào em buông được một chuyện mà không cần cố không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 372, và kệ 379–380. Hai bài này nói thẳng vào việc tu của người hướng dẫn kẻ khác: ai dò xét mình khi mình là người đi dạy?
  • Kệ 369: chiếc thuyền của em đang có nước gì cần tát?
  • Kệ 372 nói thiền và tuệ nuôi nhau. Em thiếu bên nào hơn?
  • Kệ 377: buông một cách tự nhiên khác gì với ép mình buông?
  • Kệ 379 bảo tự mình quở trách mình. Làm sao để không thành tự dằn vặt?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: bản tiếng Việt ở đây lấy từ tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net (thư mục translation/vi), rồi đối chiếu từng dòng với nguyên văn Pāli và với nhiều bản Việt ngữ khác. Tệp gốc ấy là bản số hoá nên vẫn còn một ít lỗi gõ; chỗ nào hai bản khác nhau, chúng tôi đều tra lại Pāli để phân định, và chỗ nào không phân định được thì ghi rõ ngay trên trang chứ không chọn bừa. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.