Phẩm dài thứ nhì của cả bộ kinh, và là phẩm nói kỹ nhất về cơ chế chứ không phải về đạo lý. Hình ảnh trung tâm: cỏ bị cắt ngang mà còn rễ thì mọc lại. Ái không được tả như một tội, mà như một loài cây.
Phần I · Xuất Xứ- Phẩm thứ hai mươi bốn của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 26 bài kệ, từ số 334 đến 359.
- Kệ 353 là lời Đức Phật nói với đạo sĩ Upaka, người đầu tiên gặp Ngài sau khi thành đạo và hỏi ai là thầy Ngài.
- Kệ 354 — “Pháp thí thắng mọi thí” — là bài kệ được khắc ở nhiều chùa và hay dùng trong lễ ấn tống kinh sách.
Taṇhā nghĩa đen là khát. Không phải “ham muốn” chung chung — mà là cái khát cứ trở lại. Đó là lý do kinh tả nó bằng hình ảnh thực vật: dây leo (334), rễ cỏ (338), gốc cây (338). Chặt phần trên thì phần dưới vẫn còn.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Xuất hiện ở kệ |
|---|---|---|
| taṇhā | ái, khát ái | suốt phẩm |
| māluvā | dây leo māluvā | 334 |
| mūla | rễ | 338 |
| anūpaddava | không bị hại, không tái phát | 338 |
| visattikā | sự dính mắc lan rộng | 335, 336 |
| usīra | rễ cỏ thơm (phải đào sâu mới lấy được) | 337 |
| dhammadāna | pháp thí | 354 |
| khettāni | ruộng (ví với tham, sân, si) | 356–359 |
Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.
Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;
So plavatī hurā huraṁ,
Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Ái tăng như dây leo.
Nhảy đời này đời khác,
Như vượn tham quả rừng.
taṇhā loke visattikā;
Sokā tassa pavaḍḍhanti,
abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Bị ái dục buộc ràng,
Sầu khổ sẽ tăng trưởng,
Như cỏ Bi gặp mưa.
taṇhaṁ loke duraccayaṁ;
Sokā tamhā papatanti,
udabinduva pokkharā.
Ái dục được hàng phục;
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước lá sen.
yāvantettha samāgatā;
Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha,
usīratthova bīraṇaṁ;
Mā vo naḷaṁva sotova,
māro bhañji punappunaṁ.
Các người tụ họp đây,
Hãy nhổ tận gốc ái
Như nhổ gốc cỏ Bi.
Chớ để ma phá hoại,
Như dòng nước cỏ lau.
Chinnopi rukkho punareva rūhati;
Evampi taṇhānusaye anūhate,
Nibbattatī dukkhamidaṁ punappunaṁ.
Gốc chưa hại vẫn bền.
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh hoài.
manāpasavanā bhusā;
Mahāvahanti duddiṭṭhiṁ,
saṅkappā rāganissitā.
Trôi người đến khả ái.
Các tư tưởng tham ái,
Cuốn trôi người tà kiến.
latā uppajja tiṭṭhati;
Tañca disvā lataṁ jātaṁ,
mūlaṁ paññāya chindatha.
Như dây leo mọc tràn,
Thấy dây leo vừa sanh,
Với tuệ, hãy đoạn gốc.
Somanassāni bhavanti jantuno;
Te sātasitā sukhesino,
Te ve jātijarūpagā narā.
Ưa thích các hỷ lạc.
Tuy mong cầu an lạc,
Chúng vẫn phải sanh già.
Parisappanti sasova bandhito;
Saṁyojanasaṅgasattakā,
Dukkhamupenti punappunaṁ cirāya.
Vùng vẫy và hoảng sợ,
Như thỏ bị sa lưới.
Chúng sanh ái trói buộc,
Chịu khổ đau dài dài.
Parisappanti sasova bandhito;
Tasmā tasiṇaṁ vinodaye,
Ākaṅkhanta virāgamattano.
Vùng vẫy và hoảng sợ,
Như thỏ bị sa lưới.
Do vậy vị tỳ-kheo,
Mong cầu mình ly tham
Nên nhiếp phục ái dục.
Vanamutto vanameva dhāvati;
Taṁ puggalametha passatha,
Mutto bandhanameva dhāvati.
Thoát rừng chạy theo rừng.
Nên xem người như vậy,
Được thoát khỏi buộc ràng,
Lại chạy theo ràng buộc.
Yadāyasaṁ dārujapabbajañca;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu,
Puttesu dāresu ca yā apekkhā.
Người trí xem chưa bền.
Tham châu báu, trang sức,
Tham vọng vợ và con.
Ohārinaṁ sithilaṁ duppamuñcaṁ;
Etampi chetvāna paribbajanti,
Anapekkhino kāmasukhaṁ pahāya.
Trói buộc này thật bền.
Trì kéo xuống, lún xuống,
Nhưng thật sự khó thoát.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc, không màng.
Sayaṅkataṁ makkaṭakova jālaṁ;
Etampi chetvāna vajanti dhīrā,
Anapekkhino sabbadukkhaṁ pahāya.
Tự lao mình xuống dòng
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.
Majjhe muñca bhavassa pāragū;
Sabbattha vimuttamānaso,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Đến bờ kia cuộc đời;
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh, già.
Tibbarāgassa subhānupassino;
Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati,
Esa kho daḷhaṁ karoti bandhanaṁ.
Tham sắc bén nhìn tịnh,
Người ấy ái tăng trưởng,
Làm dây trói mình chặt.
Asubhaṁ bhāvayate sadā sato;
Esa kho byanti kāhiti,
Esa checchati mārabandhanaṁ.
Quán bất tịnh, thường niệm;
Người ấy sẽ diệt ái,
Cắt đứt ma trói buộc.
vītataṇho anaṅgaṇo;
Acchindi bhavasallāni,
antimoyaṁ samussayo.
Ly ái, không nhiễm ô.
Nhổ mũi tên sanh tử,
Thân này thân cuối cùng.
Niruttipadakovido;
Akkharānaṁ sannipātaṁ,
Jaññā pubbāparāni ca;
Sa ve "antimasārīro,
Mahāpañño mahāpuriso"ti vuccati.
Cú pháp khéo biện tài,
Thấu suốt từ vô ngại,
Hiểu thứ lớp trước sau,
Thân này thân cuối cùng.
Vị như vậy được gọi,
Bậc đại trí, đại nhân.
Sabbesu dhammesu anūpalitto;
Sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto,
Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
Ta rõ biết tất cả,
Không bị nhiễm pháp nào.
Ta từ bỏ tất cả
Ái diệt, tự giải thoát.
Đã tự mình thắng trí,
Ta gọi ai thầy ta?
Sabbarasaṁ dhammaraso jināti;
Sabbaratiṁ dhammarati jināti,
Taṇhakkhayo sabbadukkhaṁ jināti.
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!
no ca pāragavesino;
Bhogataṇhāya dummedho,
hanti aññeva attanaṁ.
Không người tìm bờ kia.
Kẻ ngu vì tham giàu,
Hại mình và hại người.
rāgadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītarāgesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tham làm hại người đời.
Bố thí người ly tham,
Do vậy được quả lớn.
dosadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītadosesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Sân làm hại người đời.
Bố thí người ly sân,
Do vậy được quả lớn.
mohadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītamohesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Si làm hại người đời.
Bố thí người ly si,
Do vậy được quả lớn.
icchādosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vigaticchesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Dục làm hại người đời.
Bố thí người ly dục,
Do vậy được quả lớn.
Kệ 334 — dây leo và con vượn. Hai hình ảnh trong một bài: ái mọc tràn như dây leo, và người sống buông lung thì nhảy chuyền như vượn trong rừng tìm trái. Chỗ đắt của hình ảnh con vượn: nó không đứng yên bao giờ, và mỗi lần chuyền là vì thấy trái ở cành khác.
Kệ 338 — bài kệ then chốt của phẩm. “Như cây bị chặt đốn, gốc rễ chưa đoạn tận, tuy đốn vẫn mọc lại.” Đây là lý do vì sao sửa hành vi thôi thì không đủ. Bỏ một thói quen mà chưa thấy được cái khát ở dưới thì nó mọc lại ở chỗ khác, dưới một hình dạng khác.
Kệ 353 — lời với đạo sĩ Upaka. Sau khi thành đạo, Đức Phật gặp một đạo sĩ hỏi: thầy ngài là ai? Bài kệ này là câu trả lời — “Ta gọi ai thầy ta?”. Chú ý: đây không phải lời tự cao. Chú giải kể rằng Upaka nghe xong chỉ nói “mong là vậy” rồi bỏ đi. Bài kệ ghi lại một lần Đức Phật nói thật mà không ai tin.
Kệ 354 — và một chỗ chữ nghĩa cần thưa rõ. Ba dòng đầu đều dùng chữ thắng: pháp thí thắng mọi thí, pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ. Dòng bốn, bản in của HT. Thích Minh Châu ghi “Ái diệt, dứt mọi khổ”. Nguyên văn Pāli dùng cùng một chữ jināti (thắng) cho cả bốn dòng. Chúng tôi giữ đúng bản in và ghi lại chỗ này để quý anh chị biết, chứ không tự sửa chữ của Hoà thượng cho “đều”.
Kệ 356–359 — bốn bài kệ về ruộng. Cỏ làm hại ruộng; tham, sân, si, dục làm hại người. Cho nên cúng dường bậc ly tham thì được quả lớn. Bốn bài giống hệt nhau trừ một chữ. Hình ảnh nhà nông ở đây rất thực tế: ruộng tốt không phải ruộng không có cỏ, mà là ruộng được làm cỏ đều.
Như cây bị chặt đốn, gốc rễ chưa đoạn tận, tuy đốn vẫn mọc lại.Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Ái là ham muốn.” Taṇhā là khát — cái trở lại. Uống rồi vẫn khát nữa; đó mới là chỗ bài kệ nhắm.
- “Bỏ được thói quen là xong.” Kệ 338 nói rõ: còn rễ thì mọc lại. Đổi hành vi mà chưa thấy cái khát ở dưới thì nó mọc chỗ khác.
- “Kệ 353 là lời tự tôn.” Chú giải kể Upaka nghe xong bỏ đi. Bài kệ ghi lại một lần nói thật mà không được tin, không phải một lời khoe.
- “Kệ 356 nói cúng dường nhiều thì phước nhiều.” Bài kệ nói cúng dường bậc ly tham — trọng tâm ở người nhận đã sạch cỏ, không ở số lượng.
- Ngành Oanh. Kệ 338, dạy bằng việc thật: nhổ một cây cỏ mà để lại rễ, tuần sau ra xem. Không cần giảng gì thêm.
- Ngành Thiếu. Kệ 334 và con vượn chuyền cành. Hỏi: vì sao mình cứ đổi hết thứ này sang thứ khác mà không thấy đủ?
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 353 kèm chuyện Upaka. Bàn về việc nói điều đúng mà không ai tin — và Đức Phật đã làm gì sau đó: Ngài đi tiếp tới vườn Lộc Uyển.
- Kệ 338 nói còn rễ thì mọc lại. “Rễ” trong đời em là gì?
- Kệ 334 ví người buông lung với con vượn chuyền cành. Em thấy giống mình chỗ nào?
- Kệ 354 nói pháp thí thắng mọi thí. Vì sao lại hơn cả cho tiền, cho ăn?
- Kệ 356–359 ví tham sân si với cỏ dại. Ruộng nhà em tuần này có cỏ gì?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.
Một lời thưa: bản tiếng Việt ở đây lấy từ tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net (thư mục translation/vi), rồi đối chiếu từng dòng với nguyên văn Pāli và với nhiều bản Việt ngữ khác. Tệp gốc ấy là bản số hoá nên vẫn còn một ít lỗi gõ; chỗ nào hai bản khác nhau, chúng tôi đều tra lại Pāli để phân định, và chỗ nào không phân định được thì ghi rõ ngay trên trang chứ không chọn bừa. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.






