G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 22
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XXII

Phẩm Địa Ngục

Nirayavagga — Pháp Cú kệ 306–319 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Địa Ngục

Xin thưa trước một điều về cách dạy phẩm này: đọc nó thành lời hù dọa trẻ con là hỏng. Hãy để ý chỗ kinh đặt bài mở đầu — không phải giết người, không phải trộm cướp, mà là một lời nói dối. Cả phẩm nói về việc nhỏ dẫn tới chỗ lớn.

  • Phẩm thứ hai mươi hai của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 14 bài kệ, từ số 306 đến 319.
  • Bốn kệ cuối 316–319 đi thành hai cặp, nói về một việc rất khác địa ngục: thấy sai chỗ đáng sợ và chỗ không đáng sợ.
  • Kệ 315 dùng hình ảnh thành trì biên giới — phòng hộ cả trong lẫn ngoài, không lơi một khắc.

Niraya dịch là “địa ngục”, nghĩa gốc gần với “chỗ không có lối thoát”, “chỗ đi xuống”. Điều đáng chú ý là kinh không tả cảnh địa ngục trong phẩm này. Nó chỉ nói tới việc làm nào đưa người ta tới đó — và bắt đầu bằng lời nói dối.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
nirayađịa ngục, chỗ đi xuốngsuốt phẩm
abhūtavādīngười nói điều không thật306
kāsāvakaṇṭhākẻ mang áo cà-sa nơi cổ307
dussīlā asaññatāác giới, không chế ngự307
ayosaṅkuhòn sắt nóng308
paccantaṁ nagaraṁthành trì biên giới315
bhaya / abhayađáng sợ / không đáng sợ317
vajja / avajjalỗi / không lỗi318, 319

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

306
Sundarīparibbājikāvatthu — Chuyện nữ du sĩ ngoại đạo Sundarī
Abhūtavādī nirayaṁ upeti,
Yo vāpi katvā na karomi cāha;
Ubhopi te pecca samā bhavanti,
Nihīnakammā manujā parattha.
Nói láo đọa địa ngục
Có làm nói không làm,
Cả hai chết đồng đẳng,
Làm người, nghiệp hạ liệt.
A liar goes to hell, as does one who denies what they did. Both are equal in the hereafter, those men of base deeds.
307
Duccaritaphalapīḷitavatthu — Chuyện những chúng sanh bị quả báo ác hạnh hành hạ
Kāsāvakaṇṭhā bahavo,
pāpadhammā asaññatā;
Pāpā pāpehi kammehi,
nirayaṁ te upapajjare.
Nhiều người khoác cà sa,
Ác hạnh không nhiếp phục.
Người ác, do ác hạnh,
Phải sanh cõi Ðịa ngục.
Many who wear a scrap of ocher cloth are unrestrained and wicked. Being wicked, they are reborn in hell due to their bad deeds.
308
Vaggumudātīriyabhikkhuvatthu — Chuyện các Tỳ-kheo ở bờ sông Vaggumudā
Seyyo ayoguḷo bhutto,
tatto aggisikhūpamo;
Yañce bhuñjeyya dussīlo,
raṭṭhapiṇḍamasaññato.
Tốt hơn nuốt hòn sắt
Cháy đỏ như than hồng,
Hơn ác giới, buông lung
Ăn đồ ăn quốc độ.
It'd be better for the immoral and unrestrained to eat an iron ball, scorching, like a burning flame, than to eat the nation's alms.
309
Khemakaseṭṭhiputtavatthu — Chuyện Khemaka, con nhà triệu phú
Cattāri ṭhānāni naro pamatto,
Āpajjati paradārūpasevī;
Apuññalābhaṁ na nikāmaseyyaṁ,
Nindaṁ tatīyaṁ nirayaṁ catutthaṁ.
Bốn nạn chờ đợi người,
Phóng dật theo vợ người;
Mắc họa, ngủ không yên,
Bị chê là thứ ba,
Ðọa địa ngục, thứ bốn.
Four things befall a heedless man who sleeps with another's wife: wickedness, poor sleep, ill-repute, and rebirth in hell.
310
Khemakaseṭṭhiputtavatthu — Chuyện Khemaka, con nhà triệu phú
Apuññalābho ca gatī ca pāpikā,
Bhītassa bhītāya ratī ca thokikā;
Rājā ca daṇḍaṁ garukaṁ paṇeti,
Tasmā naro paradāraṁ na seve.
Mắc họa, đọa ác thú,
Bị hoảng sợ, ít vui.
Quốc vương phạt trọng hình.
Vậy chớ theo vợ người.
He accrues wickedness and is reborn in a bad place, all so a frightened couple may snatch a moment's pleasure, for which rulers impose a heavy punishment. That's why a man should not sleep with another's wife.
311
Dubbacabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo khó dạy
Kuso yathā duggahito,
hatthamevānukantati;
Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,
nirayāyupakaḍḍhati.
Như cỏ sa vụng nắm,
Tất bị họa đứt tay
Hạnh Sa môn tà vạy,
Tất bị đọa địa ngục.
When kusa grass is wrongly grasped it only cuts the hand. So too, the ascetic life, when wrongly taken, drags you to hell.
312
Dubbacabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo khó dạy
Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,
saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;
Saṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,
na taṁ hoti mahapphalaṁ.
Sống phóng đãng buông lung,
Theo giới cấm ô nhiễm,
Sống Phạm hạnh đáng nghi
Sao chứng được quả lớn?
Any lax act, any corrupt observance, or suspicious spiritual life, is not very fruitful.
313
Dubbacabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo khó dạy
Kayirā ce kayirāthenaṁ,
daḷhamenaṁ parakkame;
Sithilo hi paribbājo,
bhiyyo ākirate rajaṁ.
Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
If one is to do what should be done, one should staunchly strive. For the life gone forth when laxly led just stirs up dust all the more.
314
Issāpakataitthivatthu — Chuyện người đàn bà bị lòng ganh tị chi phối
Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,
pacchā tappati dukkaṭaṁ;
Katañca sukataṁ seyyo,
yaṁ katvā nānutappati.
Ác hạnh không nên làm,
Làm xong, chịu khổ lụy,
Thiện hạnh, ắt nên làm,
Làm xong, không ăn năn.
A bad deed is better left undone, for it will plague you later on. A good deed is better done, one that does not plague you.
315
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị Tỳ-kheo
Nagaraṁ yathā paccantaṁ,
guttaṁ santarabāhiraṁ;
Evaṁ gopetha attānaṁ,
khaṇo vo mā upaccagā;
Khaṇātītā hi socanti,
nirayamhi samappitā.
Như thành ở biên thùy,
Trong ngoài đều phòng hộ
Cũng vậy, phòng hộ mình,
Sát na chớ buông lung.
Giây phút qua, sầu muộn.
Khi rơi vào địa ngục.
As a frontier city is guarded inside and out, so you should ward yourselves— don't let the moment pass you by. For if you miss your moment you'll grieve when sent to hell.
316
Nigaṇṭhavatthu — Chuyện các tu sĩ lõa thể Ni-kiền-tử
Alajjitāye lajjanti,
lajjitāye na lajjare;
Micchādiṭṭhisamādānā,
sattā gacchanti duggatiṁ.
Không đáng hổ, lại hổ.
Việc đáng hổ, lại không.
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
Unashamed of what is shameful, ashamed of what is not shameful; beings who uphold wrong view go to a bad place.
317
Nigaṇṭhavatthu — Chuyện các tu sĩ lõa thể Ni-kiền-tử
Abhaye bhayadassino,
bhaye cābhayadassino;
Micchādiṭṭhisamādānā,
sattā gacchanti duggatiṁ.
Không đáng sợ, lại sợ,
Ðáng sợ, lại thấy không,
Do chấp nhận tà kiến.
Chúng sanh đi ác thú.
Seeing danger where there is none, and blind to the actual danger, beings who uphold wrong view go to a bad place.
318
Titthiyasāvakavatthu — Chuyện các đệ tử của ngoại đạo
Avajje vajjamatino,
vajje cāvajjadassino;
Micchādiṭṭhisamādānā,
sattā gacchanti duggatiṁ.
Không lỗi, lại thấy lỗi,
Có lỗi, lại thấy không,
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
Seeing fault where there is none, and blind to the actual fault, beings who uphold wrong view go to a bad place.
319
Titthiyasāvakavatthu — Chuyện các đệ tử của ngoại đạo
Vajjañca vajjato ñatvā,
avajjañca avajjato;
Sammādiṭṭhisamādānā,
sattā gacchanti suggatiṁ.
Có lỗi, biết có lỗi,
Không lỗi, biết là không,
Do chấp nhận chánh kiến,
Chúng sanh đi cõi lành.
Knowing a fault as a fault and the faultless as faultless, beings who uphold right view go to a good place.

Kệ 306 — vì sao mở phẩm địa ngục bằng lời nói dối. Không phải vì nói dối là tội nặng nhất. Mà vì nó là cái dễ làm nhất, và cái mở đường. Bài kệ nêu hai hạng: người nói điều không thật, và người làm rồi chối là không làm. Hạng thứ hai đáng chú ý hơn — chối bỏ việc mình đã làm thì tự cắt mất đường sửa.

Kệ 307–308 — bài kệ nói với người trong đạo. “Nhiều người mang áo cà-sa nơi cổ mà ác giới, không chế ngự.” Đây là chỗ kinh quay vào bên trong, không nói người ngoài. Kệ 308 nói thẳng: thà nuốt hòn sắt nóng còn hơn ăn của tín thí mà sống buông thả. Càng được cúng dường thì càng nặng.

Kệ 315 — thành trì biên giới. Thành biên giới phải giữ cả trong lẫn ngoài, và không được lơi một sát-na. Vì sao lại là thành biên giới? Vì đó là chỗ giáp mặt — nơi mọi thứ đi qua. Bài kệ chọn hình ảnh ấy để nói: chỗ cần giữ là chỗ mình tiếp xúc với đời, không phải chỗ sâu kín.

Kệ 316–319 — bốn bài về việc thấy sai. Sợ cái không đáng sợ, không sợ cái đáng sợ; thấy lỗi ở chỗ không lỗi, không thấy lỗi ở chỗ có lỗi. Đây mới là chỗ phẩm này thật sự nhắm tới. Địa ngục trong bốn bài kệ này không đến từ việc làm ác — nó đến từ việc nhìn lệch, và người nhìn lệch thì cứ đi tới mà tưởng mình đi đúng.

Nói phẩm này thế nào cho phải. Kinh không đe. Nó nói quy luật, giống như nói lửa thì nóng. Người lớn dạy các em bằng cách hù “không ngoan là xuống địa ngục” là dùng sai bài kinh này — vì bốn bài kệ cuối nói rõ rằng chính cái nhìn lệch mới là chỗ nguy.

Nói láo đọa địa ngục, có làm nói không làm.
  • “Phẩm này để dọa cho sợ.” Bốn bài kệ cuối nói chỗ nguy là nhìn lệch, không phải sợ ít hay nhiều. Dùng phẩm này để hù trẻ con là dùng sai.
  • “Kệ 307 chê người tu.” Bài kệ nói tới kẻ mang áo mà ác giới — nó quay vào bên trong để cảnh tỉnh, không chê hàng xuất gia.
  • “Địa ngục là nơi bị phạt.” Trong phẩm này không có ai phán xử. Nirayachỗ đi xuống mà việc làm tự nó dẫn tới.
  • “Nói dối là tội nhẹ.” Kinh đặt nó ở bài mở đầu của phẩm này — không phải vì nặng nhất, mà vì dễ nhất và mở đường nhất.
  • Ngành Oanh. Xin đừng dạy phần địa ngục cho ngành Oanh. Nếu dùng phẩm này, chỉ nên dùng ý kệ 306: làm rồi thì nhận, đừng chối. Hỏi: khi lỡ làm bể đồ, nói thật hay giấu thì dễ hơn?
  • Ngành Thiếu. Kệ 316–317: sợ sai chỗ. Hỏi các em điều gì mình hay sợ mà thật ra không đáng sợ, và ngược lại.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 307–308. Bài kệ nói với người đã mang hình thức của đạo — hợp để nói về trách nhiệm khi mặc đồng phục Gia Đình Phật Tử trước mặt các em.
  • Vì sao phẩm nói về địa ngục lại mở đầu bằng một lời nói dối?
  • Kệ 306 nói tới người làm rồi chối. Vì sao chối lại nặng hơn?
  • Kệ 315 chọn hình ảnh thành biên giới. Trong đời em, “biên giới” là chỗ nào?
  • Kệ 317: em có sợ điều gì mà thật ra không đáng sợ không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: bản tiếng Việt ở đây lấy từ tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net (thư mục translation/vi), rồi đối chiếu từng dòng với nguyên văn Pāli và với nhiều bản Việt ngữ khác. Tệp gốc ấy là bản số hoá nên vẫn còn một ít lỗi gõ; chỗ nào hai bản khác nhau, chúng tôi đều tra lại Pāli để phân định, và chỗ nào không phân định được thì ghi rõ ngay trên trang chứ không chọn bừa. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.