G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 21
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XXI

Phẩm Tạp Lục

Pakiṇṇakavagga — Pháp Cú kệ 290–305 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Tạp Lục

Tên phẩm nghĩa là góp nhặt — các bài kệ ở đây không theo một chủ đề chặt như những phẩm khác. Nhưng bài mở đầu đặt ra một phép tính mà cả phẩm xoay quanh: chịu mất cái nhỏ để được cái lớn.

  • Phẩm thứ hai mươi mốt của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 16 bài kệ, từ số 290 đến 305.
  • Sáu kệ 296–301 lặp cùng một khuôn, chỉ đổi đối tượng niệm: Phật, Pháp, Tăng, thân, bất hại, thiền quán.
  • Kệ 294–295 là hai bài kệ gây sốc nhất cả bộ kinh — nói tới việc “giết mẹ cha”. Đây là lối nói ẩn dụ, xin xem kỹ phần Giảng Giải trước khi dạy.

Pakiṇṇaka nghĩa là rải rác, góp nhặt. Nhưng đọc kỹ thì thấy phần lớn các bài kệ đều là một phép đổi: bỏ lạc nhỏ lấy lạc lớn (290), bỏ việc không đáng làm lấy việc đáng làm (292–293), bỏ ngủ mê lấy tỉnh thức (296–301).

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
pakiṇṇakarải rác, góp nhặttên phẩm
mattāsukhalạc nhỏ, lạc chừng mực290
vipula sukhalạc rộng lớn290
kicca / akiccaviệc đáng làm / không đáng làm292
suppabuddhaṁ pabujjhantitỉnh dậy khéo tỉnh296–301
kāyagatā satiniệm thân299
ahiṁsābất hại300
duppabbajjaṁxuất gia là việc khó302

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

290
Attanopubbakammavatthu — Chuyện nghiệp đời trước của chính Đức Phật
Mattāsukhapariccāgā,
passe ce vipulaṁ sukhaṁ;
Caje mattāsukhaṁ dhīro,
sampassaṁ vipulaṁ sukhaṁ.
Nhờ từ bỏ lạc nhỏ,
Thấy được lạc lớn hơn,
Bậc trí bỏ lạc nhỏ,
Thấy được lạc lớn hơn.
If by giving up material happiness one sees abundant happiness, the attentive would give up material happiness, seeing the abundant happiness.
291
Kukkuṭaṇḍakhādikāvatthu — Chuyện người đàn bà ăn trứng gà
Paradukkhūpadhānena,
attano sukhamicchati;
Verasaṁsaggasaṁsaṭṭho,
verā so na parimuccati.
Gieo khổ đau cho người,
Mong cầu lạc cho mình,
Bị hận thù buộc ràng
Không sao thoát hận thù.
Seeking their own happiness by imposing suffering on others, intimate with enmity, they're not freed from enmity.
292
Bhaddiyānaṁ bhikkhūnaṁ vatthu — Chuyện các Tỳ-kheo ở thành Bhaddiya
Yañhi kiccaṁ apaviddhaṁ,
akiccaṁ pana karīyati;
Unnaḷānaṁ pamattānaṁ,
tesaṁ vaḍḍhanti āsavā.
Việc đáng làm, không làm,
Không đáng làm, lại làm,
Người ngạo mạn, phóng dật,
Lậu hoặc ắt tăng trưởng.
They dump what should be done, and do what should not be done. For the insolent and the negligent, their defilements only grow.
293
Bhaddiyānaṁ bhikkhūnaṁ vatthu — Chuyện các Tỳ-kheo ở thành Bhaddiya
Yesañca susamāraddhā,
niccaṁ kāyagatā sati;
Akiccaṁ te na sevanti,
kicce sātaccakārino;
Satānaṁ sampajānānaṁ,
atthaṁ gacchanti āsavā.
Người siêng năng cần mẫn,
Thường thường quán thân niệm,
Không làm việc không đáng,
Gắng làm việc đáng làm,
Người tư niệm giác tỉnh,
Lậu hoặc được tiêu trừ.
Those that have properly undertaken constant mindfulness of the body, don't cultivate what should not be done, but always do what should be done. Mindful and aware, their defilements come to an end.
294
Lakuṇḍakabhaddiyavatthu — Chuyện Trưởng lão Bhaddiya người lùn
Mātaraṁ pitaraṁ hantvā,
rājāno dve ca khattiye;
Raṭṭhaṁ sānucaraṁ hantvā,
anīgho yāti brāhmaṇo.
Sau khi giết mẹ cha,
Giết hai Vua Sát-lỵ,
Giết vương quốc, quần thần
Vô ưu, Phạm chí sống.
Having slain mother and father, and two aristocratic kings, and having wiped out the kingdom with its tax collector, the brahmin walks on untroubled.
295
Lakuṇḍakabhaddiyavatthu — Chuyện Trưởng lão Bhaddiya người lùn
Mātaraṁ pitaraṁ hantvā,
rājāno dve ca sotthiye;
Veyagghapañcamaṁ hantvā,
anīgho yāti brāhmaṇo.
Sau khi giết mẹ cha,
Hai vua Bà-la-môn,
Giết hổ tướng thứ năm
Vô ưu, Phạm chí sống.
Having slain mother and father, and two prosperous kings, and a tiger as the fifth, the brahmin walks on untroubled.
296
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
niccaṁ buddhagatā sati.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng Phật-đà thường niệm.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, who day and night constantly recollect the Buddha.
297
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
niccaṁ dhammagatā sati.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng Chánh pháp thường niệm.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, who day and night constantly recollect the teaching.
298
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
niccaṁ saṅghagatā sati.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng Tăng-già thường niệm.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, who day and night constantly recollect the Saṅgha.
299
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
niccaṁ kāyagatā sati.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng sắc thân thường niệm.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, who day and night are constantly mindful of the body.
300
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
ahiṁsāya rato mano.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui niềm bất hại.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, whose minds day and night delight in harmlessness.
301
Dārusākaṭikaputtavatthu — Chuyện người con trai bác tiều phu chở củi
Suppabuddhaṁ pabujjhanti,
sadā gotamasāvakā;
Yesaṁ divā ca ratto ca,
bhāvanāya rato mano.
Đệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui tu thiền quán.
The disciples of Gotama always wake up refreshed, whose minds day and night delight in meditation.
302
Vajjiputtakabhikkhuvatthu — Chuyện vị Tỳ-kheo người xứ Vajji
Duppabbajjaṁ durabhiramaṁ,
Durāvāsā gharā dukhā;
Dukkhosamānasaṁvāso,
Dukkhānupatitaddhagū;
Tasmā na caddhagū siyā,
Na ca dukkhānupatito siyā.
Vui hạnh xuất gia khó,
Tại gia sinh hoạt khó,
Sống bạn không đồng, khổ,
Trôi lăn luân hồi, khổ,
Vậy chớ sống luân hồi,
Chớ chạy theo đau khổ.
Going forth is hard, it's hard to be happy; life at home is hard too, and painful, it's painful to stay when you've nothing in common. A traveler is a prey to pain, so don't be a traveler, don't be prey to pain.
303
Cittagahapativatthu — Chuyện gia chủ Citta
Saddho sīlena sampanno,
yasobhogasamappito;
Yaṁ yaṁ padesaṁ bhajati,
tattha tattheva pūjito.
Tín tâm, sống giới hạnh
Đủ danh xưng tài sản,
Chỗ nào người ấy đến,
Chỗ ấy được cung kính.
One who is faithful, accomplished in ethics, blessed with fame and wealth, is honored in whatever place they frequent.
304
Cūḷasubhaddāvatthu — Chuyện nàng Cūḷasubhaddā
Dūre santo pakāsenti,
himavantova pabbato;
Asantettha na dissanti,
rattiṁ khittā yathā sarā.
Người lành dầu ở xa
Sáng tỏ như núi tuyết,
Người ác dầu ở gần
Như tên bắn đêm đen.
The good shine from afar, like the Himalayan peaks, but the wicked are not seen, like arrows scattered in the night.
305
Ekavihārittheravatthu — Chuyện Trưởng lão Ekavihārī (vị sống một mình)
Ekāsanaṁ ekaseyyaṁ,
eko caramatandito;
Eko damayamattānaṁ,
vanante ramito siyā.
Ai ngồi nằm một mình,
Độc hành không buồn chán,
Tự điều phục một mình
Sống thoải mái rừng sâu.
Sitting alone, sleeping alone, tirelessly wandering alone; one who tames themselves alone would delight within a forest.

Kệ 290 — phép tính mở phẩm. Nếu bỏ một cái vui nhỏ mà thấy được cái vui lớn hơn, thì người trí bỏ cái nhỏ. Nghe thì hiển nhiên. Cái khó nằm ở chữ “thấy”passe. Người ta không bỏ được cái nhỏ vì chưa thấy cái lớn, chứ không phải vì tham.

Kệ 294–295 — xin đọc kỹ chỗ này. “Sau khi giết mẹ cha, giết hai vua Sát-lỵ…” Đây hoàn toàn là ẩn dụ, và chú giải nói rõ từng chữ: mẹái, chamạn, hai vuahai thứ tà kiến (thường kiến và đoạn kiến), vương quốcmười hai xứ, quần thầnhỷ tham. Không có một chữ nào nói tới việc hại người thật. Bài kệ dùng lối nói dữ dội để chỉ việc dứt sạch những gì trói buộc sâu nhất.

Kệ 296–301 — sáu bài về việc ngủ dậy. Suppabuddhaṁ pabujjhanti: tỉnh dậy mà khoẻ khoắn. Kinh không nói người tu thì ít ngủ. Nó nói người có chỗ để tâm gá vào — Phật, Pháp, Tăng, thân, lòng bất hại, thiền quán — thì ngủ dậy nhẹ người. Đây là một bài kệ rất đời thường, và rất dễ kiểm chứng.

Một chỗ nên nói cho đúng ở kệ 299. Bản Việt ghi “Tưởng sắc thân thường niệm”. Chữ Pāli là kāyagatā satiniệm thân, tức phép quán thân của chính mình. Không phải niệm sắc thân của Đức Phật. Chỗ này rất dễ giảng lệch, xin lưu ý.

Kệ 302 — bài kệ thành thật nhất về đời tu. Xuất gia khó, tại gia cũng khó, sống với người không đồng chí hướng thì khổ, mà trôi lăn thì cũng khổ. Kinh không hứa rằng chọn đường nào cũng dễ. Nó chỉ nói: đã vậy thì đừng trôi lăn nữa.

Nhờ từ bỏ lạc nhỏ, thấy được lạc lớn hơn.
  • “Kệ 294 nói tới việc giết mẹ cha.” Tuyệt đối không. Chú giải giải từng chữ: mẹ = ái, cha = mạn, hai vua = hai tà kiến. Đây là ẩn dụ, và phải nói rõ điều đó trước khi đọc bài kệ.
  • “Kệ 299 dạy niệm sắc thân Phật.” Pāli là kāyagatā satiniệm thân của chính mình, một phép quán trong Tứ Niệm Xứ.
  • “Kệ 290 dạy bỏ hết mọi niềm vui.” Bài kệ nói bỏ lạc nhỏ khi đã thấy lạc lớn hơn. Chưa thấy mà bỏ thì chỉ là ép mình.
  • “Kệ 296 dạy dậy sớm.” Chữ là suppabuddhaṁtỉnh dậy khoẻ khoắn, không nói tới giờ giấc.
  • Ngành Oanh. Kệ 290, kể bằng chuyện quen: nhịn một cái kẹo bây giờ để lát nữa được cả gói. Rồi hỏi: vì sao khó nhịn? — vì chưa thấy cái gói kia.
  • Ngành Thiếu. Kệ 296–301. Cho các em thử một tuần: trước khi ngủ nhớ lại một việc lành trong ngày. Rồi hỏi sáng dậy có khác không.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 294–295. Chỉ nên dạy ở ngành Thanh trở lên, và phải giảng ẩn dụ trước. Đây là dịp tốt để nói về việc đọc kinh theo nghĩa đen thì nguy hiểm thế nào.
  • Kệ 290 nói phải thấy cái lớn thì mới bỏ được cái nhỏ. Làm sao để thấy?
  • Kệ 294 dùng lối nói rất dữ. Vì sao kinh lại chọn cách nói ấy?
  • Kệ 296–301: em có chỗ nào để tâm gá vào trước khi ngủ không?
  • Kệ 302 nói đường nào cũng khó. Vậy chọn thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: bản tiếng Việt ở đây lấy từ tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net (thư mục translation/vi), rồi đối chiếu từng dòng với nguyên văn Pāli và với nhiều bản Việt ngữ khác. Tệp gốc ấy là bản số hoá nên vẫn còn một ít lỗi gõ; chỗ nào hai bản khác nhau, chúng tôi đều tra lại Pāli để phân định, và chỗ nào không phân định được thì ghi rõ ngay trên trang chứ không chọn bừa. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.