G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 18
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XVIII

Phẩm Cấu Uế

Malavagga — Pháp Cú kệ 235–255 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Cấu Uế

Phẩm dài nhất từ đầu kinh tới đây. Hình ảnh trung tâm nằm ở kệ 240: sét không từ đâu tới cả — nó từ chính miếng sắt sinh ra, rồi quay lại ăn miếng sắt ấy. Cả phẩm là một cách nói: cái làm hỏng một người thường do chính người ấy sinh ra.

  • Phẩm thứ mười tám của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 21 bài kệ, từ số 235 đến 255 — phẩm dài nhất tính tới đây.
  • Bốn kệ mở đầu 235–238 đi liền một mạch như một lời thúc: đời ngươi đã tới cuối, hành trang không có, hãy tự làm hòn đảo cho chính mình.
  • Kệ 252 có hình ảnh rất đời: lỗi người thì thấy dễ, lỗi mình thấy mới khósàng lỗi người như sàng trấu, còn lỗi mình thì giấu như người đánh bạc gian giấu con bài.

Mala là vết nhơ, cáu bẩn — cái bám vào làm mờ đi. Phẩm liệt kê một loạt: không tụng đọc là vết nhơ của kinh điển, không siêng là vết nhơ của nhà, biếng nhác là vết nhơ của sắc đẹp. Rồi kết bằng câu quyết định ở kệ 243: avijjā paramaṁ malaṁ — vô minh là vết nhơ lớn nhất. Không phải tội lỗi, không phải dục vọng: là không biết.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
malavết nhơ, cấu uếsuốt phẩm
avijjāvô minh — vết nhơ lớn nhất243
ayasāva malaṁ samuṭṭhitaṁsét sinh từ chính sắt240
dīpaṁ karohi attanohãy tự làm hòn đảo cho mình236, 238
anuppādāyasự không sinh khởi trở lại238
opuṇātisàng, quạt (như sàng trấu)252
kalivāván bài thua, nước cờ gian252
saddhālòng tin249, 250

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

235
Goghātakaputtavatthu — Chuyện con trai người đồ tể mổ bò
Paṇḍupalāsova dānisi,
Yamapurisāpi ca te upaṭṭhitā;
Uyyogamukhe ca tiṭṭhasi,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
Ngươi nay giống lá héo,
Diêm sứ đang chờ ngươi,
Ngươi đứng trước cửa chết,
Ðường trường thiếu tư lương.
Today you're like a withered leaf, Yama's men await you. You stand at the departure gates, yet you have no supplies for the road.
236
Goghātakaputtavatthu — Chuyện con trai người đồ tể mổ bò
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Dibbaṁ ariyabhūmiṁ upehisi.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp, sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Ðến Thánh địa chư Thiên.
Make an island of yourself! Swiftly strive, learn to be wise! Purged of stains, flawless, you'll go to the heavenly realm of the noble ones.
237
Goghātakaputtavatthu — Chuyện con trai người đồ tể mổ bò
Upanītavayo ca dānisi,
Sampayātosi yamassa santikaṁ;
Vāso te natthi antarā,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
Ðời ngươi nay sắp tàn,
Tiến gần đến Diêm Vương.
Giữa đường không nơi nghỉ,
Ðường trường thiếu tư lương.
You've journeyed the stages of life, and now you set out to meet Yama. Along the way there's nowhere to stay, yet you have no supplies for the road.
238
Goghātakaputtavatthu — Chuyện con trai người đồ tể mổ bò
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Chẳng trở lại sanh già.
Make an island of yourself! Swiftly strive, learn to be wise! Purged of stains, flawless, you'll not come again to rebirth and old age.
239
Aññatarabrāhmaṇavatthu — Chuyện một vị Bà-la-môn nọ
Anupubbena medhāvī,
thokaṁ thokaṁ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva,
niddhame malamattano.
Bậc trí theo tuần tự.
Từng sát na trừ dần.
Như thợ vàng lọc bụi
Trừ cấu uế nơi mình.
A smart person would purge their own stains gradually, bit by bit, moment by moment, like a smith smelting silver.
240
Tissattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Tissa
Ayasāva malaṁ samuṭṭhitaṁ,
Tatuṭṭhāya tameva khādati;
Evaṁ atidhonacārinaṁ,
Sāni kammāni nayanti duggatiṁ.
Như sét từ sắt sanh,
Sắt sanh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng
Tự nghiệp dẫn cõi ác.
It is the rust born on the iron that eats away the place it arose. And so it is their own deeds that lead the overly-ascetic to a bad place.
241
Lāḷudāyīvatthu — Chuyện Tôn giả Lāḷudāyī
Asajjhāyamalā mantā,
anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṁ vaṇṇassa kosajjaṁ,
pamādo rakkhato malaṁ.
Không tụng làm nhớp kinh,
Không đứng dậy, bẩn nhà,
Biếng nhác làm nhơ sắc,
Phóng dật uế người canh.
Not rehearsing is the stain of hymns. The stain of houses is neglect. Laziness is the stain of beauty. A guard's stain is negligence.
242
Aññatarakulaputtavatthu — Chuyện một thiện nam tử nọ
Malitthiyā duccaritaṁ,
maccheraṁ dadato malaṁ;
Malā ve pāpakā dhammā,
asmiṁ loke paramhi ca.
Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan tham nhớp kẻ thí,
Ác pháp là vết nhơ,
Ðời này và đời sau.
Misconduct is a woman's stain. A giver's stain is stinginess. Bad qualities are a stain in this world and the next.
243
Aññatarakulaputtavatthu — Chuyện một thiện nam tử nọ
Tato malā malataraṁ,
avijjā paramaṁ malaṁ;
Etaṁ malaṁ pahantvāna,
nimmalā hotha bhikkhavo.
Trong hàng cấu uế ấy,
Vô minh, nhơ tối thượng,
Ðoạn nhơ ấy, Tỷ kheo,
Thành bậc không uế nhiễm.
But a worse stain than these is ignorance, the worst stain of all. Having given up that stain, be without stains, mendicants!
244
Cūḷasāribhikkhuvatthu — Chuyện Tỳ-kheo Cūḷasāri
Sujīvaṁ ahirikena,
kākasūrena dhaṁsinā;
Pakkhandinā pagabbhena,
saṅkiliṭṭhena jīvitaṁ.
Dễ thay, sống không hổ
Sống lỗ mãng như quạ,
Sống công kích huênh hoang,
Sống liều lĩnh, nhiễm ô.
Life is easy for the shameless. With all the rude courage of a crow, they live pushy, rude, and corrupt.
245
Cūḷasāribhikkhuvatthu — Chuyện Tỳ-kheo Cūḷasāri
Hirīmatā ca dujjīvaṁ,
niccaṁ sucigavesinā;
Alīnenāppagabbhena,
suddhājīvena passatā.
Khó thay, sống xấu hổ,
Thường thường cầu thanh tịnh.
Sống vô tư, khiêm tốn,
Trong sạch và sáng suốt.
Life is hard for the conscientious, always seeking purity, neither clinging nor rude, pure of livelihood and discerning.
246
Pañcaupāsakavatthu — Chuyện năm vị cư sĩ
Yo pāṇamatipāteti,
musāvādañca bhāsati;
Loke adinnamādiyati,
paradārañca gacchati.
Ai ở đời sát sinh,
Nói láo không chân thật,
Ở đời lấy không cho,
Qua lại với vợ người.
Take anyone in this world who kills living creatures, speaks falsely, steals, commits adultery,
247
Pañcaupāsakavatthu — Chuyện năm vị cư sĩ
Surāmerayapānañca,
yo naro anuyuñjati;
Idheva meso lokasmiṁ,
mūlaṁ khaṇati attano.
Uống rượu men, rượu nấu,
Người sống đam mê vậy,
Chính ngay tại đời này,
Tự đào bới gốc mình.
and indulges in drinking beer and wine. Right here they dig up the root of their own self.
248
Pañcaupāsakavatthu — Chuyện năm vị cư sĩ
Evaṁ bho purisa jānāhi,
pāpadhammā asaññatā;
Mā taṁ lobho adhammo ca,
ciraṁ dukkhāya randhayuṁ.
Vậy người, hãy nên biết,
Không chế ngự là ác.
Chớ để tham phi pháp,
Làm người đau khổ dài.
Know this, my man: they are unrestrained and wicked. Don't let that greed and unrighteousness inflict pain on you for long.
249
Tissadaharavatthu — Chuyện Sa-di trẻ Tissa
Dadāti ve yathāsaddhaṁ,
yathāpasādanaṁ jano;
Tattha yo ca maṅku bhavati,
paresaṁ pānabhojane;
Na so divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Do tín tâm, hỷ tâm
Loài người mới bố thí.
Ở đây ai bất mãn
Người khác được ăn uống,
Người ấy ngày hoặc đêm,
Không đạt được tâm định.
The people give according to their faith, according to their confidence. If you get upset over that, over others' food and drink, you'll not, by day or by night, become immersed in samādhi.
250
Tissadaharavatthu — Chuyện Sa-di trẻ Tissa
Yassa cetaṁ samucchinnaṁ,
mūlaghaccaṁ samūhataṁ;
Sa ve divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Ai cắt được, phá được,
Tận gốc nhổ tâm ấy.
Người ấy ngày hoặc đêm,
Ðạt được tâm thiền định.
Those who have cut that out, dug it up at the root, eradicated it, they will, by day or by night, become immersed in samādhi.
251
Pañcaupāsakavatthu — Chuyện năm vị cư sĩ
Natthi rāgasamo aggi,
natthi dosasamo gaho;
Natthi mohasamaṁ jālaṁ,
natthi taṇhāsamā nadī.
Lửa nào bằng lửa tham!
Chấp nào bằng sân hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông ái!
There is no fire like greed, no crime like hate, no net like delusion, no river like craving.
252
Meṇḍakaseṭṭhivatthu — Chuyện trưởng giả Meṇḍaka
Sudassaṁ vajjamaññesaṁ,
attano pana duddasaṁ;
Paresaṁ hi so vajjāni,
opunāti yathā bhusaṁ;
Attano pana chādeti,
kaliṁva kitavā saṭho.
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.
It's easy to see the faults of others, hard to see one's own. For the faults of others are tossed high like hay, while one's own are hidden, as a cheat hides a bad hand.
253
Ujjhānasaññittheravatthu — Chuyện Trưởng lão Ujjhānasaññī (vị hay bới lỗi)
Paravajjānupassissa,
niccaṁ ujjhānasaññino;
Āsavā tassa vaḍḍhanti,
ārā so āsavakkhayā.
Ai thấy lỗi của người,
Thường sanh lòng chỉ trích,
Người ấy lậu hoặc tăng,
Rất xa lậu hoặc diệt.
When you look for the flaws of others, always finding fault, your defilements only grow, you're far from ending defilements.
254
Subhaddaparibbājakavatthu — Chuyện du sĩ Subhadda
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Papañcābhiratā pajā,
nippapañcā tathāgatā.
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn,
Chúng sanh thích hý luận,
Như lai, hý luận trừ.
In the atmosphere there is no track, there's no true ascetic outside here. People enjoy proliferation, the Realized Ones are free of proliferation.
255
Subhaddaparibbājakavatthu — Chuyện du sĩ Subhadda
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Saṅkhārā sassatā natthi,
natthi buddhānamiñjitaṁ.
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn.
Các hành không thường trú,
Chư Phật không giao động.
In the atmosphere there is no track, there's no true ascetic outside here. No conditions last forever, the Awakened Ones are not shaken.

Kệ 240 — sét và sắt. Đây là hình ảnh trung tâm của cả phẩm. Sét không phải bụi bên ngoài bám vào — nó sinh ra từ chính miếng sắt, rồi quay lại ăn miếng sắt ấy. Kinh nói nghiệp của người vượt quá giới hạnh cũng vậy: dẫn chính người đó tới cõi khổ. Không có kẻ thù nào ở ngoài trong bài kệ này.

Kệ 243 — câu kết bất ngờ. Sau khi kể ra một loạt vết nhơ, kinh không kết bằng tham hay sân, mà bằng vô minh. Vì sao? Vì tham và sân còn thấy được — người tham biết mình đang muốn. Còn vô minh thì chính là cái làm mình không thấy. Vết nhơ nguy nhất là vết nhơ làm mờ luôn con mắt nhìn vết nhơ.

Kệ 252 — con bài giấu đi. Sàng lỗi người thì dễ như sàng trấu, tung lên là bay hết. Còn lỗi mình thì giấu như người đánh bạc gian giấu ván bài thua. Chỗ sắc của hình ảnh: người đánh bạc gian biết rõ mình có con bài ấy. Bài kệ không nói ta không thấy lỗi mình — nó nói ta thấy, và ta giấu.

Kệ 235–238 — bốn bài kệ của người sắp hết giờ. “Ngươi nay giống lá héo… tử thần đứng chờ… đường trường không lương thực.” Rồi câu quan trọng: hãy tự làm hòn đảo cho chính mình. Đây cùng một chữ với lời cuối của Đức Phật trong Kinh Đại Bát Niết Bàn. Kinh không dọa để làm sợ — nó dọa để làm gấp.

Kệ 253 — bài kệ dành cho người hay sửa lưng người khác. Ai thường thấy lỗi người và luôn chê bai, thì lậu hoặc của người ấy tăng lên, và người ấy xa lìa sự đoạn diệt lậu hoặc. Đây là một bài kệ nên đọc chậm: việc chăm chú nhìn lỗi người tự nó là một vết nhơ, dù các lỗi kia có thật.

Như sét từ sắt sinh ra, rồi ăn lại chính sắt ấy.
  • “Vết nhơ lớn nhất là tham dục.” Kệ 243 nói rõ: vô minh. Tham còn thấy được; vô minh là cái làm mình không thấy.
  • “Kệ 252 nói mình không biết lỗi mình.” Hình ảnh là người đánh bạc gian giấu con bàingười ấy biết rõ. Bài kệ nói về việc giấu, không nói về việc không thấy.
  • “Thấy lỗi người khác để nhắc là việc tốt.” Kệ 253 nói người thường nhìn lỗi người thì lậu hoặc tăng. Chữ then chốt là thường — thành thói quen nhìn, chứ không phải một lần nhắc bạn.
  • “Bốn kệ đầu là lời dọa.” Chúng kết bằng hãy tự làm hòn đảo cho mình — một lời bảo làm, không phải một lời bảo sợ.
  • Ngành Oanh. Kệ 240, dạy bằng vật thật: một cái đinh gỉ. Hỏi: sét này ở đâu ra? Ai bôi lên? Không ai cả — nó từ chính cây đinh.
  • Ngành Thiếu. Kệ 252 và hình ảnh giấu con bài. Hỏi thẳng: em có bao giờ biết rõ mình sai mà vẫn giấu không? Đây là bài kệ nói đúng tâm lý tuổi này.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 253 — bài kệ dành riêng cho người có trách nhiệm nhắc nhở kẻ khác. Bàn: nhắc thế nào để không thành thói quen soi lỗi?
  • Kệ 240 nói sét từ chính sắt sinh ra. Trong đời em, có thứ gì làm hỏng mình mà lại do chính mình sinh ra không?
  • Kệ 243 nói vô minh là vết nhơ lớn nhất. Vì sao lại là không biết, chứ không phải làm ác?
  • Kệ 252: vì sao lỗi mình thấy khó hơn lỗi người?
  • Kệ 253 nói nhìn lỗi người nhiều thì lậu hoặc tăng. Vậy khi thật sự cần nhắc bạn thì làm sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.