Phẩm này mở bằng ba bài kệ có cùng một khuôn, và khuôn ấy nói lên tất cả: giữa những người X, ta sống không X. Giữa hận thù mà không hận, giữa tật bệnh mà không bệnh, giữa rộn ràng mà không rộn ràng. Không phải trốn đi chỗ khác — mà là ở ngay đó, khác đi.
Phần I · Xuất Xứ- Phẩm thứ mười lăm của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 12 bài kệ, từ số 197 đến 208.
- Theo chú giải, ba bài kệ mở đầu (197–199) được nói khi hai bên dòng họ tranh nhau nước sông Rohiṇī sắp gây chiến — một tranh chấp có thật về nguồn nước.
- Kệ 204 liệt kê bốn điều tối thượng, và kết bằng Niết-bàn là lạc tối thượng — bài kệ hay được khắc ở cổng chùa.
Sukha thường dịch là “lạc”, “vui”. Nhưng phẩm này không nói tới niềm vui do được cái gì. Kệ 200 nói rõ: ta sống không gì là của ta — vậy mà vẫn vui, vui như chư thiên Quang Âm. Đây là niềm vui còn lại sau khi bỏ bớt, không phải niềm vui có thêm.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Xuất hiện ở kệ |
|---|---|---|
| sukha | lạc, an vui | suốt phẩm |
| averino | không hận, không thù | 197 |
| āturesu anāturā | giữa người bệnh mà không bệnh | 198 |
| ussukesu anussukā | giữa người rộn ràng mà không rộn ràng | 199 |
| ābhassarā devā | chư thiên Quang Âm | 200 |
| jayaṁ veraṁ pasavati | thắng trận sinh thù oán | 201 |
| nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ | Niết-bàn là lạc tối thượng | 203, 204 |
| vissāsaparamā ñāti | tin cậy là bà con tối thượng | 204 |
Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.
verinesu averino;
Verinesu manussesu,
viharāma averino.
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!
āturesu anāturā;
Āturesu manussesu,
viharāma anāturā.
Không bệnh, giữa ốm đau!
Giữa những người bệnh hoạn,
Ta sống, không ốm đau.
ussukesu anussukā;
Ussukesu manussesu,
viharāma anussukā.
Không rộn giữa rộn ràng;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng.
yesaṁ no natthi kiñcanaṁ;
Pītibhakkhā bhavissāma,
devā ābhassarā yathā.
Không gì, gọi của ta.
Ta sẽ hưởng hỷ lạc,
Như chư thiên Quang Âm.
dukkhaṁ seti parājito;
Upasanto sukhaṁ seti,
hitvā jayaparājayaṁ.
Thất bại chịu khổ đau,
Sống tịch tịnh an lạc.
Bỏ sau mọi thắng bại.
Natthi dosasamo kali;
Natthi khandhasamā dukkhā,
Natthi santiparaṁ sukhaṁ.
Ác nào bằng sân hận?
Khổ nào sánh khổ uẩn,
Lạc nào bằng tịnh lạc.
saṅkhāraparamā dukhā;
Etaṁ ñatvā yathābhūtaṁ,
nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ.
Các hành, khổ tối thượng,
Hiểu như thực là vậy,
Niết-bàn, lạc tối thượng.
Santuṭṭhiparamaṁ dhanaṁ;
Vissāsaparamā ñāti,
Nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ.
Biết đủ, tiền tối thượng,
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng.
Niết-bàn, lạc tối thượng.
rasaṁ upasamassa ca;
Niddaro hoti nippāpo,
dhammapītirasaṁ pivaṁ.
Ðược hưởng vị nhàn tịnh,
Không sợ hãi, không ác,
Nếm được vị pháp hỷ.
sannivāso sadā sukho;
Adassanena bālānaṁ,
niccameva sukhī siyā.
Sống chung thường hưởng lạc.
Không thấy những người ngu,
Thường thường được an lạc.
dīghamaddhāna socati;
Dukkho bālehi saṁvāso,
amitteneva sabbadā;
Dhīro ca sukhasaṁvāso,
ñātīnaṁva samāgamo.
Lâu dài bị lo buồn.
Khổ thay gần người ngu,
Như thường sống kẻ thù.
Vui thay, gần người trí,
Như chung sống bà con.
Dhīrañca paññañca bahussutañca,
Dhorayhasīlaṁ vatavantamariyaṁ;
Taṁ tādisaṁ sappurisaṁ sumedhaṁ,
Bhajetha nakkhattapathaṁva candimā.
Bậc hiền sĩ, trí tuệ,
Bậc nghe nhiều, trì giới,
Bậc tự chế, Thánh nhân;
Hãy gần gũi, thân cận
Thiện nhân, trí giả ấy,
Như trăng theo đường sao.
Kệ 197–199 — cái khuôn ba lần. Ba bài giống hệt nhau về cấu trúc: giữa hận, không hận; giữa bệnh, không bệnh; giữa rộn ràng, không rộn ràng. Chỗ đáng chú ý là chữ “giữa”. Kinh không bảo đi tìm nơi không có hận. Nó nói người ấy vẫn đứng nguyên trong đám ấy.
Kệ 201 — bài kệ về việc thắng. “Thắng trận sinh thù oán, bại trận nằm khổ đau. Người tịnh lặng an lạc, bỏ sau mọi thắng bại.” Bài kệ không nói người thua đáng thương và người thắng may mắn. Nó nói cả hai đều đang mang một thứ — và người an lạc là người đặt xuống cả hai.
Kệ 202 — chỗ dễ đọc lướt nhất. “Không lửa nào bằng tham, không ác nào bằng sân, không khổ nào bằng uẩn, không lạc nào bằng tịnh.” Ba vế đầu quen tai. Vế cuối mới lạ: santi — sự lặng — được gọi là lạc. Kinh không hứa một niềm vui nào cả; nó nói chỗ hết động chính là chỗ vui.
Kệ 204 — bốn điều tối thượng, và điều thứ ba. Không bệnh là lợi tối thượng; biết đủ là tài sản tối thượng; tin cậy là bà con tối thượng; Niết-bàn là lạc tối thượng. Điều thứ ba dễ bị lướt qua: vissāsa — chỗ mình tin được. Kinh nói người mình tin cậy được thì thân hơn cả họ hàng ruột thịt.
Kệ 207–208 — bạn đường. Đi với người ngu thì như ở chung với kẻ thù; đi với người trí thì như gặp lại bà con. Đặt cạnh kệ 204, ý rất rõ: trong phẩm nói về hạnh phúc, kinh dành bốn bài kệ cho chuyện chọn người mà đi cùng.
Vui thay, chúng ta sống, không hận, giữa hận thù.Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Muốn an lạc thì tránh xa người xấu.” Kệ 197 nói giữa hận thù mà không hận. Việc chọn bạn đường (207–208) là chuyện khác, và kinh nói riêng ở cuối phẩm.
- “Niết-bàn là một niềm vui lớn.” Kệ 202 nói không lạc nào bằng tịnh. Đó là chỗ hết động, không phải một cảm giác vui mạnh hơn.
- “Kệ 201 dạy đừng cố gắng thắng.” Bài kệ nói về cái mình mang theo sau khi thắng, không bàn tới việc cố gắng. Người tịnh lặng vẫn làm việc — chỉ không mang thắng bại theo.
- “Vui vì không có gì là của mình — nghĩa là nghèo thì vui.” Kệ 200 không nói về túi tiền. Nó nói về chữ của ta. Người giàu vẫn đọc được bài kệ này.
- Ngành Oanh. Kệ 197. Đọc rồi hỏi thật cụ thể: khi cả lớp đang giận nhau, em có thể không giận được không? Không giảng thêm, để các em tự trả lời.
- Ngành Thiếu. Kệ 201 và chuyện thắng thua — hợp với chuyện thi đua, trò chơi lớn. Hỏi: thắng rồi thì mình mang theo cái gì?
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 204, chữ vissāsa. Bàn về việc trở thành người mà đoàn sinh và phụ huynh tin cậy được — kinh xếp điều đó ngang hàng ruột thịt.
- Kệ 197 nói sống giữa hận thù mà không hận. Vì sao kinh không bảo tránh đi?
- Kệ 201: sau một lần thắng, em mang theo điều gì?
- Kệ 202 gọi sự lặng là lạc. Em đã bao giờ thấy vui vì không có gì xảy ra chưa?
- Kệ 204 nói người tin cậy được thì thân hơn bà con. Em thấy đúng không?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.
Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.






