G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 14
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm XIV

Phẩm Phật Đà

Buddhavagga — Pháp Cú kệ 179–196 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Phật Đà

Phẩm dài nhất từ đầu kinh tới đây, và chứa bài kệ được trích nhiều nhất trong toàn bộ Phật giáo — kệ 183. Nhưng chính vì được trích nhiều nên nó cũng bị cắt nhiều: rất ít nơi đọc hết cả ba câu, và câu bị bỏ lại thường là câu quan trọng nhất.

  • Phẩm thứ mười bốn của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 18 bài kệ, từ số 179 đến 196.
  • Kệ 183–185 hợp thành Ovāda-pāṭimokkhabài giáo giới chư Phật, theo truyền thống được tụng vào ngày Rằm tháng Giêng (lễ Māgha Pūjā).
  • Kệ 190–192 nói về Tam Quy và giải thích vì sao quy y Phật – Pháp – Tăng là chỗ nương an ổn, khác với các chỗ nương khác.

Buddha nghĩa là người đã tỉnh — từ gốc budh, thức dậy. Không phải một danh hiệu ban cho, cũng không phải một vị thần. Phẩm này tả bậc ấy bằng những chữ rất lạ: không dấu vết, không đường đi, vô lượng, không dấu chânvì người đã hết ái thì không còn để lại dấu để mà lần theo.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
buddhabậc giác ngộ, người đã tỉnhsuốt phẩm
apadaṁkhông dấu chân, không lần theo được179, 180
taṇhā jālinīái như lưới bủa180
ovādalời giáo giới183
khantinhẫn nhục184
anupavāda, anupaghātakhông phỉ báng, không não hại185
saraṇachỗ nương, quy y188–192
dukkhūpasamaṁsự lặng dứt của khổ191

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

179
Māradhītaravatthu — Chuyện các con gái Ma vương
Yassa jitaṁ nāvajīyati,
Jitaṁ yassa noyāti koci loke;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Vị chiến thắng không bại,
Vị bước đi trên đời,
Không dấu tích chiến thắng,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?
He whose victory may not be undone, a victory unrivaled in all the world; by what track would you trace that Buddha, who leaves no track in his infinite range?
180
Māradhītaravatthu — Chuyện các con gái Ma vương
Yassa jālinī visattikā,
Taṇhā natthi kuhiñci netave;
Taṁ buddhamanantagocaraṁ,
Apadaṁ kena padena nessatha.
Ai giải tỏa lưới tham,
Ái phược hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?
Of craving, the weaver, the clinger, he has none: so where can he be traced? By what track would you trace that Buddha, who leaves no track in his infinite range?
181
Devorohaṇavatthu — Chuyện Phật từ cõi trời trở xuống
Ye jhānapasutā dhīrā,
nekkhammūpasame ratā;
Devāpi tesaṁ pihayanti,
sambuddhānaṁ satīmataṁ.
Người trí chuyên thiền định,
Thích an tịnh viễn ly,
Chư thiên đều ái kính,
Bậc chánh giác, chánh niệm.
The attentive intent on absorption, who love the peace of renunciation, the Buddhas, ever mindful, are envied by even the gods.
182
Erakapattanāgarājavatthu — Chuyện long vương Erakapatta
Kiccho manussapaṭilābho,
kicchaṁ maccāna jīvitaṁ;
Kicchaṁ saddhammassavanaṁ,
kiccho buddhānamuppādo.
Khó thay, được làm người,
Khó thay, được sống còn,
Khó thay, nghe diệu pháp,
Khó thay, Phật ra đời!
It's hard to gain a human birth; the life of mortals is hard; it's hard to hear the true teaching; the arising of Buddhas is hard.
183
Ānandattherapañhavatthu — Chuyện câu hỏi của trưởng lão Ānanda
Sabbapāpassa akaraṇaṁ,
kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodapanaṁ,
etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Không làm mọi điều ác.
Thành tựu các hạnh lành,
Tâm ý giữ trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy.
Not to do any evil; to embrace the good; to purify one's mind: this is the instruction of the Buddhas.
184
Ānandattherapañhavatthu — Chuyện câu hỏi của trưởng lão Ānanda
Khantī paramaṁ tapo titikkhā,
Nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā;
Na hi pabbajito parūpaghātī,
Na samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.
Chư Phật thường giảng dạy;
Nhẫn, khổ hạnh tối thượng;
Niết bàn quả tối thượng;
Xuất gia không phá người;
Sa môn không hại người.
Patient acceptance is the ultimate fervor. Extinguishment is the ultimate, say the Buddhas. No true renunciate injures another, nor does an ascetic hurt another.
185
Ānandattherapañhavatthu — Chuyện câu hỏi của trưởng lão Ānanda
Anūpavādo anūpaghāto,
Pātimokkhe ca saṁvaro;
Mattaññutā ca bhattasmiṁ,
Pantañca sayanāsanaṁ;
Adhicitte ca āyogo,
Etaṁ buddhāna sāsanaṁ.
Không phỉ báng, phá hoại,
Hộ trì giới căn bản,
Ăn uống có tiết độ,
Sàng tọa chỗ nhàn tịnh
Chuyên chú tăng thượng tâm,
Chính lời chư Phật dạy.
Not speaking ill nor doing harm; restraint in the monastic code; moderation in eating; staying in remote lodgings; commitment to the higher mind— this is the instruction of the Buddhas.
186
Anabhiratabhikkhuvatthu — Chuyện vị tỳ kheo bất mãn (chán nản đời tu)
Na kahāpaṇavassena,
titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā,
iti viññāya paṇḍito.
Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí.
Even if it were raining money, you'd not be sated in sensual pleasures. An astute person understands that sensual pleasures offer little gratification and much suffering.
187
Anabhiratabhikkhuvatthu — Chuyện vị tỳ kheo bất mãn
Api dibbesu kāmesu,
ratiṁ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti,
sammāsambuddhasāvako.
Ðệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục chư thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.
Thus they find no delight even in celestial pleasures. A disciple of the fully awakened Buddha delights in the ending of craving.
188
Aggidattabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Aggidatta
Bahuṁ ve saraṇaṁ yanti,
pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni,
manussā bhayatajjitā.
Loài người sợ hoảng hốt,
Tìm nhiều chỗ quy y,
Hoặc rừng rậm, núi non,
Hoặc vườn cây, đền tháp.
So many go for refuge to mountains and forest groves, to shrines in tended parks; those people are driven by fear.
189
Aggidattabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Aggidatta
Netaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
netaṁ saraṇamuttamaṁ;
Netaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Quy y ấy không ổn,
Không quy y tối thượng.
Quy y các chỗ ấy,
Không thoát mọi khổ đau.
But such refuge is no sanctuary, it is no supreme refuge. By going to that refuge, you're not released from all suffering.
190
Aggidattabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Aggidatta
Yo ca buddhañca dhammañca,
saṅghañca saraṇaṁ gato;
Cattāri ariyasaccāni,
sammappaññāya passati.
Ai quy y Ðức Phật,
Chánh Pháp và chư tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế.
One gone for refuge to the Buddha, to his teaching and to the Saṅgha, sees the four noble truths with right understanding:
191
Aggidattabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Aggidatta
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ não tận.
suffering, suffering's origin, suffering's transcendence, and the noble eightfold path that leads to the stilling of suffering.
192
Aggidattabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn Aggidatta
Etaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,
etaṁ saraṇamuttamaṁ;
Etaṁ saraṇamāgamma,
sabbadukkhā pamuccati.
Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau.
Such refuge is a sanctuary, it is the supreme refuge. By going to that refuge, you're released from all suffering.
193
Ānandattherapañhavatthu — Chuyện câu hỏi của trưởng lão Ānanda
Dullabho purisājañño,
na so sabbattha jāyati;
Yattha so jāyati dhīro,
taṁ kulaṁ sukhamedhati.
Khó gặp bậc thánh nhơn,
Không phải đâu cũng có.
Chỗ nào bậc trí sanh,
Gia đình tất an lạc.
It's hard to find a thoroughbred man: they're not born just anywhere. A family where that attentive one is born prospers in happiness.
194
Sambahulabhikkhuvatthu — Chuyện nhiều vị tỳ kheo (bàn luận điều gì là an lạc)
Sukho buddhānamuppādo,
sukhā saddhammadesanā;
Sukhā saṅghassa sāmaggī,
samaggānaṁ tapo sukho.
Vui thay, Phật ra đời!
Vui thay, Pháp được giảng!
Vui thay, Tăng hòa hợp!
Hòa hợp tu, vui thay!
Happy, the arising of Buddhas! Happy, the teaching of Dhamma! Happy is the harmony of the Saṅgha, and the striving of the harmonious is happy.
195
Kassapadasabalassasuvaṇṇacetiyavatthu — Chuyện ngôi bảo tháp vàng của Đức Phật Kassapa
Pūjārahe pūjayato,
buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.
Cúng dường bậc đáng cúng,
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Ðoạn diệt mọi sầu bi.
When a person venerates the worthy— the Buddha or his disciple, who have transcended proliferation, and have left behind grief and lamentation,
196
Kassapadasabalassasuvaṇṇacetiyavatthu — Chuyện ngôi bảo tháp vàng của Đức Phật Kassapa
Te tādise pūjayato,
nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,
imettamapi kenaci.
Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.
quenched, fearing nothing from any quarter— the merit of one venerating such as these, cannot be calculated by anyone, saying it is just this much.

Kệ 183 — ba câu, và câu thứ ba mới là chỗ khó. “Không làm mọi điều ác. Thành tựu các hạnh lành. Tâm ý giữ trong sạch.” Hai câu đầu nói về việc làm — ai cũng kiểm được. Câu thứ ba nói về tâm — không ai kiểm giùm được. Nhiều nơi tụng tới câu hai rồi dừng, và mất đúng phần khó nhất: làm đủ việc lành mà trong tâm vẫn đục thì bài kệ chưa xong.

Kệ 184 — nhẫn nhục là khổ hạnh cao nhất. Kinh đặt khanti lên trên mọi khổ hạnh khác. Vì sao? Nhịn ăn, nằm đất, dãi nắng — đều là những việc mình tự chọn giờ giấc. Còn nhẫn thì người khác chọn lúc nào mình phải nhẫn. Đó là chỗ khó không hẹn trước được.

Kệ 185 — chỗ nhiều người bỏ qua. Bài kệ này liệt kê: không phỉ báng, không não hại, sống chế ngự trong giới, ăn uống có tiết độ, ngồi nằm chỗ vắng, chuyên chú tăng thượng tâm. Chú ý điều đầu tiên: không phỉ báng và không não hại đứng trước cả giới luật và thiền định. Kinh xếp cách mình đối với người khác lên trước.

Kệ 188–192 — vì sao Tam Quy là chỗ nương an ổn. Kinh mở bằng việc người ta sợ hãi thì chạy tới núi, tới rừng, tới cây thiêng — rồi nói thẳng: đó không phải chỗ nương an ổn, nương chỗ ấy không thoát khổ. Chỗ nương an ổn là Phật, Pháp, Tăng, vì nó đưa tới thấy Bốn Sự Thật. Chú ý cách lập luận: kinh không nói núi rừng là mê tín — nó nói chúng không giải quyết được việc.

Kệ 179–180 — bậc Phật “không dấu chân”. Hình ảnh này lấy từ việc lần theo dấu thú. Người còn ái thì còn để lại đường đi — ái chính là dấu chân. Ma vương lần theo được là nhờ dấu ấy. Hết ái thì không còn gì để lần.

Không làm mọi điều ác, thành tựu các hạnh lành, tâm ý giữ trong sạch.
  • “Kệ 183 chỉ có hai câu.”ba. Câu thứ ba — tâm ý giữ trong sạch — là câu hay bị bỏ nhất, và là câu khó nhất.
  • “Nhẫn nhục là nín nhịn cho yên chuyện.” Khanti được kinh xếp trên mọi khổ hạnh. Nếu nó chỉ là nín cho qua thì không có lý do gì để đứng ở chỗ đó.
  • “Quy y là một nghi lễ.” Kệ 190–191 định nghĩa chỗ nương bằng kết quả: nương chỗ ấy thì thấy Bốn Sự Thật. Nghi lễ là cửa vào, không phải cái đích.
  • “Phật là một vị thần.” Buddha nghĩa là đã tỉnh. Kệ 179–180 tả bậc ấy là người không còn dấu vết để lần theo — không phải người có quyền năng ban phát.
  • Ngành Oanh. Kệ 183, dạy đủ ba câu và đếm trên ba ngón tay: không làm ác — làm lành — giữ tâm sạch. Nhấn ngón thứ ba, hỏi: ai biết được tâm em có sạch không?
  • Ngành Thiếu. Kệ 184 — nhẫn. Hỏi: vì sao nhịn ăn dễ hơn nhịn giận? Câu trả lời nằm ở chỗ ai là người chọn thời điểm.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 185 và thứ tự các mục trong đó. Bàn: vì sao không phỉ báng, không não hại lại đứng trước giới và định? Nối vào cách anh chị em trong đoàn nói về nhau.
  • Kệ 183 có ba câu. Câu nào khó làm nhất, và vì sao?
  • Kệ 184 nói nhẫn là khổ hạnh cao nhất. Em đồng ý không?
  • Kệ 188 nói người sợ hãi chạy tới núi rừng. Ngày nay người ta chạy tới đâu?
  • Kệ 190 nói chỗ nương an ổn là chỗ đưa tới thấy sự thật. Vậy chỗ nương không an ổn khác ở điểm nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 8/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.