Đây là phẩm dễ dạy nhất trong cả Kinh Pháp Cú, và cũng dễ bị rút thành khẩu hiệu nhất. Bài kệ mở đầu không viện tới một giáo lý nào cả. Nó chỉ hỏi: em có sợ đau không? Rồi bảo lấy câu trả lời ấy làm thước đo cho mọi người khác.
Phần I · Xuất Xứ- Phẩm thứ mười của Kinh Pháp Cú, thuộc Tiểu Bộ Kinh. Gồm 17 bài kệ, từ số 129 đến 145 — phẩm dài nhất từ đầu kinh tới đây.
- Kệ 129 và 130 là một cặp, ba dòng đầu gần như giống hệt: một bài nói ai cũng sợ gậy, bài kia nói ai cũng thương mạng sống.
- Daṇḍa nghĩa đen là cây gậy. Cũng chính chữ ấy trong tiếng Pāli mang nghĩa hình phạt — cây gậy và án phạt là một chữ.
Daṇḍa là cây gậy trong tay. Nhưng phẩm này không chỉ nói tới đánh đập. Kệ 133 chuyển sang lời nói, và dùng đúng chữ ấy: đao trượng phản chạm người. Kinh xếp lời ác vào cùng một hạng với gậy gộc — không phải để nói quá, mà vì cả hai đều là cái người ta vung ra khi tin rằng mình có quyền.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Xuất hiện ở kệ |
|---|---|---|
| daṇḍa | gậy; cũng nghĩa là hình phạt | suốt phẩm |
| attānaṁ upamaṁ katvā | lấy chính mình làm thước đo | 129, 130 |
| sukhakāma | ưa thích an lạc | 131, 132 |
| kaṁsathāla | chiếc chuông (đồng) bị bể | 134 |
| ariya | bậc Thánh, bậc Hiền | 142 |
| samaṇa | sa-môn, người tu | 142 |
| saddhā, sīla, viriya | tín, giới, tinh tấn | 144 |
| attānaṁ damayanti | tự điều phục lấy mình | 145 |
Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.
sabbe bhāyanti maccuno;
Attānaṁ upamaṁ katvā,
na haneyya na ghātaye.
Mọi người sợ tử vong.
Lấy mình làm ví dụ,
Không giết, không bảo giết.
sabbesaṁ jīvitaṁ piyaṁ;
Attānaṁ upamaṁ katvā,
na haneyya na ghātaye.
Mọi người thương sống còn.
Lấy mình làm ví dụ,
Không giết, không bảo giết.
yo daṇḍena vihiṁsati;
Attano sukhamesāno,
pecca so na labhate sukhaṁ.
Ai dùng trượng hại người,
Để tìm lạc cho mình,
Đời sau không được lạc.
yo daṇḍena na hiṁsati;
Attano sukhamesāno,
pecca so labhate sukhaṁ.
Không dùng trượng hại người,
Để tìm lạc cho mình,
Đời sau hưởng được lạc.
vuttā paṭivadeyyu taṁ;
Dukkhā hi sārambhakathā,
paṭidaṇḍā phuseyyu taṁ.
Nói ác, bị nói lại,
Khổ thay lời phẫn nộ,
Đao trượng phản chạm người.
kaṁso upahato yathā;
Esa pattosi nibbānaṁ,
sārambho te na vijjati.
Như chiếc chuông bị bể,
Người đã chứng Niết Bàn,
Người không còn phẫn nộ.
gāvo pājeti gocaraṁ;
Evaṁ jarā ca maccu ca,
āyuṁ pājenti pāṇinaṁ.
Lùa bò ra bãi cỏ;
Cũng vậy, già và chết,
Lùa người đến mạng chung.
karaṁ bālo na bujjhati;
Sehi kammehi dummedho,
aggidaḍḍhova tappati.
Không ý thức việc làm.
Do tự nghiệp, người ngu
Bị nung nấu, như lửa.
appaduṭṭhesu dussati;
Dasannamaññataraṁ ṭhānaṁ,
khippameva nigacchati.
Làm ác người không ác.
Trong mười loại khổ đau,
Chịu gấp một loại khổ.
sarīrassa va bhedanaṁ;
Garukaṁ vāpi ābādhaṁ,
cittakkhepaṁ va pāpuṇe.
Thân thể bị thương vong,
Hoặc thọ bệnh kịch liệt,
Hay loạn ý tán tâm.
Abbhakkhānaṁ va dāruṇaṁ;
Parikkhayaṁ va ñātīnaṁ,
Bhogānaṁ va pabhaṅguraṁ.
Hay bị vu trọng tội;
Bà con phải ly tán,
Tài sản bị nát tan.
aggi ḍahati pāvako;
Kāyassa bhedā duppañño,
nirayaṁ sopapajjati.
Bị hỏa tai thiêu đốt.
Khi thân hoại mạng chung,
Ác tuệ sanh địa ngục.
Nānāsakā thaṇḍilasāyikā vā;
Rajojallaṁ ukkuṭikappadhānaṁ,
Sodhenti maccaṁ avitiṇṇakaṅkhaṁ.
Bện tóc, tro trét mình,
Tuyệt thực, lăn trên đất,
Sống nhớp, siêng ngồi xổm,
Làm con người được sạch,
Nếu không trừ nghi hoặc.
Santo danto niyato brahmacārī;
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ,
So brāhmaṇo so samaṇo sa bhikkhu.
Nhưng an tịnh, nhiếp phục,
Sống kiên trì, phạm hạnh,
Không hại mọi sinh linh,
Vị ấy là phạm chí,
Hay sa môn, khất sĩ.
koci lokasmi vijjati;
Yo niddaṁ apabodheti,
asso bhadro kasāmiva.
Người biết thẹn, tự chế,
Biết tránh né chỉ trích
Như ngựa hiền tránh roi.
Ātāpino saṁvegino bhavātha;
Saddhāya sīlena ca vīriyena ca,
Samādhinā dhammavinicchayena ca;
Sampannavijjācaraṇā patissatā,
Jahissatha dukkhamidaṁ anappakaṁ.
Hãy nhiệt tâm, hăng hái,
Với tín, giới, tinh tấn,
Thiền định cùng trạch pháp.
Minh hạnh đủ, chánh niệm,
Đoạn khổ này vô lượng.
Usukārā namayanti tejanaṁ;
Dāruṁ namayanti tacchakā,
Attānaṁ damayanti subbatā.
Kẻ làm tên nắn tên,
Người thợ mộc uốn ván,
Bậc tự điều, điều thân.
Kệ 129–130 — cả phẩm nằm trong một câu. Attānaṁ upamaṁ katvā: lấy chính mình làm ví dụ. Đây không phải lòng thương xót ban phát từ trên xuống, cũng không phải một điều răn. Nó là một phép so sánh mà ai cũng tự làm được: ta sợ đau, thì người kia cũng sợ đau. Hết. Không cần tin điều gì thêm.
Kệ 131–132 — bài kệ có bản lề. Ai muốn vui mà lại dùng gậy hại người cũng đang đi tìm vui, thì đời sau không được vui. Bản lề nằm ở chỗ: kẻ bị hại cũng đang đi tìm đúng thứ mình đang tìm. Nhận ra điều đó rồi thì cây gậy tự nó nặng lên trong tay.
Kệ 133–134 — chiếc chuông bị bể. Hình ảnh này hay bị hiểu thành “nhịn cho qua”. Không phải. Chuông bể là chuông đánh vào mà không kêu — không phải chuông ráng nín. Chỗ khác nhau giữa nhịn và lặng là ở chỗ bên trong còn ngân hay không.
Kệ 141 — bài kệ chống lại chính hình thức tu hành. Kinh kể ra một loạt khổ hạnh: lõa thể, bện tóc, trét bùn, nhịn ăn, nằm đất — rồi nói thẳng là không cái nào làm cho trong sạch được người còn chưa vượt nghi hoặc. Đây là một trong những chỗ Đức Phật nói nặng nhất về hình thức.
Kệ 142 — và bài kệ ngay sau đó cân lại. Người trang sức đẹp mà sống an tịnh, điều phục, phạm hạnh, thì vẫn là Bà-la-môn, sa-môn, khất sĩ. Đặt cạnh kệ 141, ý rất rõ: áo không làm nên người tu, mà thiếu áo cũng không.
Kệ 145 — câu kết của phẩm. Thợ làm ống dẫn nước uốn nước, thợ làm tên uốn tên, thợ mộc uốn gỗ — người có giới hạnh tự điều phục lấy mình. Chữ đáng chú ý là tự. Suốt phẩm nói về cây gậy trong tay người khác, và kết lại bằng việc đặt cây gậy ấy vào tay chính mình.
Lấy chính mình làm thước, không giết, không bảo giết.Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Phẩm này dạy trẻ con phải sợ bị phạt.” Ngược lại. Kệ 129 không dọa ai bị phạt — nó lấy nỗi sợ của chính người đọc để dạy đừng làm người khác sợ.
- “Kệ 134 dạy nhịn nhục.” Chiếc chuông bể không phải chuông đang cố nín. Nó là chuông đã hết ngân. Nhịn mà trong lòng còn sôi thì chưa phải điều bài kệ nói.
- “Kệ 141 chê người tu khổ hạnh.” Bài kệ không chê khổ hạnh. Nó chỉ nói khổ hạnh không tự nó làm cho trong sạch — và kệ 142 ngay sau đó cũng nói y vậy về người ăn mặc đẹp.
- “Đao trượng chỉ là đánh đập.” Kệ 133 dùng chính chữ daṇḍa cho lời nói. Trong phẩm này, một câu nói cũng là một cây gậy.
- Ngành Oanh. Kệ 129, và chỉ kệ 129. Hỏi các em một câu duy nhất: em có sợ bị đánh không? Đợi các em trả lời. Rồi hỏi: vậy bạn em có sợ không? Bài kệ dạy xong ở đó, không cần giảng thêm.
- Ngành Thiếu. Kệ 133 — lời nói cũng là cây gậy. Hợp để nói về chuyện chọc ghẹo nhau và chuyện nhắn tin trên điện thoại. Câu hỏi: một câu nói có để lại dấu không?
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Kệ 141 và 142 đọc liền nhau. Bàn về chỗ dễ nhầm giữa hình thức tu và việc tu — kể cả hình thức của chính Gia Đình Phật Tử: đồng phục, huy hiệu, nghi thức.
- Kệ 129 bảo lấy chính mình làm thước đo. Vì sao phép so sánh đơn giản ấy lại đủ, không cần thêm lý lẽ nào?
- Kệ 133 xếp lời nói ngang với cây gậy. Em thấy có công bằng không?
- Kệ 134: giữa nhịn và lặng khác nhau ở chỗ nào?
- Kệ 145 nói người có giới tự điều phục mình. Vì sao phải là tự — người khác uốn giùm không được sao?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 7/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato trên suttacentral.net. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.
Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.






