G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 8
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm VIII

Phẩm Ngàn

Sahassavagga — Pháp Cú kệ 100–115 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Ngàn

Cả phẩm dựng trên một phép so sánh lặp đi lặp lại: ngàn thứ này không bằng một thứ kia. Ngàn lời vô ích không bằng một câu có nghĩa. Trăm năm sống buông lung không bằng một ngày sống tinh tấn. Ngàn quân bại trận không bằng tự thắng mình.

  • Phẩm thứ tám của Kinh Pháp Cú. Gồm 16 bài kệ, từ số 100 đến 115.
  • Tên phẩm lấy từ chữ sahassa (ngàn) xuất hiện ngay bài kệ đầu và trở đi trở lại.
  • Chứa kệ 103 — tự thắng mình hơn thắng ngàn người ngoài trận — một trong những câu được trích nhiều nhất của toàn bộ Kinh Pháp Cú.

Phép so sánh của phẩm này không nhằm hạ thấp số lượng, mà để đổi cái thước đo. Người đời đo bằng bao nhiêu; phẩm này đo bằng có đưa tới tịnh lạc không. Một khi đổi thước rồi thì ngàn và một không còn so được với nhau nữa.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
sahassamột ngàn100, 101, 103…
atthapadacâu có nghĩa, lời có ích100, 101
upasammatiđược tịnh lạc, lắng dịu100
attā jeyyatự thắng mình103
saṅgāmegiữa trận103
ekāhaṁmột ngày106, 110–115
vassasataṁmột trăm năm106, 110–115

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

100
Tambadāṭhikacoraghātakavatthu — Chuyện đao phủ Tambadāṭhika
Sahassamapi ce vācā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ atthapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Better than a thousand useless words is one useful word, hearing which one attains peace.
101
Bāhiyadārucīriyattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Bāhiya Dārucīriya
Sahassamapi ce gāthā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ gāthāpadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Dầu nói ngàn câu kệ
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn nói một câu,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Better than a thousand useless verses is one useful verse, hearing which one attains peace.
102
Kuṇḍalakesitherīvatthu — Chuyện Trưởng lão ni Kuṇḍalakesī
Yo ca gāthā sataṁ bhāse,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ dhammapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Dầu nói trăm câu kệ
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu pháp,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Better than reciting a hundred meaningless verses is the reciting of one verse of Dhamma, hearing which one attains peace.
103
Kuṇḍalakesitherīvatthu — cùng nhân duyên với kệ 102 (bản Mahāsaṅgīti không ghi tích riêng cho kệ 103)
Yo sahassaṁ sahassena,
saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṁ,
sa ve saṅgāmajuttamo.
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.
Though one may conquer a thousand times a thousand men in battle, yet he indeed is the noblest victor who conquers himself.
104
Anatthapucchakabrāhmaṇavatthu — Chuyện Bà-la-môn hỏi điều bất lợi
Attā have jitaṁ seyyo,
yā cāyaṁ itarā pajā;
Attadantassa posassa,
niccaṁ saññatacārino.
Tự thắng, tốt đẹp hơn,
Hơn chiến thắng người khác.
Người khéo điều phục mình,
Thường sống tự chế ngự.
(104–105) Self-conquest is far better than the conquest of others. Not even a god, an angel, Mara or Brahma can turn into defeat the victory of a person who is self-subdued and ever restrained in conduct.
105
Anatthapucchakabrāhmaṇavatthu — cùng nhân duyên với kệ 104
Neva devo na gandhabbo,
na māro saha brahmunā;
Jitaṁ apajitaṁ kayirā,
tathārūpassa jantuno.
Dầu Thiên Thần, Thát Bà,
Dầu Ma vương, Phạm Thiên
Không ai chiến thắng nổi,
Người tự thắng như vậy.
(104–105) Self-conquest is far better than the conquest of others. Not even a god, an angel, Mara or Brahma can turn into defeat the victory of a person who is self-subdued and ever restrained in conduct.
106
Sāriputtattherassa mātulabrāhmaṇavatthu — Chuyện người cậu Bà-la-môn của Tôn giả Xá-lợi-phất
Māse māse sahassena,
yo yajetha sataṁ samaṁ;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Tháng tháng bỏ ngàn vàng,
Tế tự cả trăm năm,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Though month after month for a hundred years one should offer sacrifices by the thousands, yet if only for a moment one should worship those of perfected minds that honor is indeed better than a century of sacrifice.
107
Sāriputtattherassa bhāgineyyavatthu — Chuyện người cháu của Tôn giả Xá-lợi-phất
Yo ca vassasataṁ jantu,
aggiṁ paricare vane;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Dầu trải một trăm năm,
Thờ lửa tại rừng sâu,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Though for a hundred years one should tend the sacrificial fire in the forest, yet if only for a moment one should worship those of perfected minds, that worship is indeed better than a century of sacrifice.
108
Sāriputtatherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu — Chuyện người bạn Bà-la-môn của Tôn giả Xá-lợi-phất
Yaṁ kiñci yiṭṭhaṁ va hutaṁ va loke,
Saṁvaccharaṁ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṁ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujjugatesu seyyo.
Suốt năm cúng tế vật,
Ðể cầu phước ở đời.
Không bằng một phần tư
Kính lễ bậc chánh trực.
Whatever gifts and oblations one seeking merit might offer in this world for a whole year, all that is not worth one fourth of the merit gained by revering the Upright Ones, which is truly excellent.
109
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu — Chuyện đồng tử Āyuvaḍḍhana
Abhivādanasīlissa,
niccaṁ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ.
Thường tôn trọng, kính lễ
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn pháp được tăng trưởng:
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.
To one ever eager to revere and serve the elders, these four blessing accrue: long life and beauty, happiness and power.
110
Saṅkiccasāmaṇeravatthu — Chuyện Sa-di Saṅkicca
Yo ca vassasataṁ jīve,
dussīlo asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
sīlavantassa jhāyino.
Dầu sống một trăm năm
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.
Better it is to live one day virtuous and meditative than to live a hundred years immoral and uncontrolled.
111
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Khāṇukoṇḍañña
Yo ca vassasataṁ jīve,
duppañño asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
paññavantassa jhāyino.
Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.
Better it is to live one day wise and meditative than to live a hundred years foolish and uncontrolled.
112
Sappadāsattheravatthu — Chuyện Trưởng lão Sappadāsa
Yo ca vassasataṁ jīve,
kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
vīriyamārabhato daḷhaṁ.
Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tinh tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.
Better it is to live one day strenuous and resolute than to live a hundred years sluggish and dissipated.
113
Paṭācārātherīvatthu — Chuyện Trưởng lão ni Paṭācārā
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ udayabbayaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato udayabbayaṁ.
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
Better it is to live one day seeing the rise and fall of things than to live a hundred years without ever seeing the rise and fall of things.
114
Kisāgotamīvatthu — Chuyện bà Kisāgotamī
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ amataṁ padaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato amataṁ padaṁ.
Ai sống một trăm năm,
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.
Better it is to live one day seeing the Deathless than to live a hundred years without ever seeing the Deathless.
115
Bahuputtikattherīvatthu — Chuyện Trưởng lão ni Bahuputtikā
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ dhammamuttamaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato dhammamuttamaṁ.
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp tối thượng.
Better it is to live one day seeing the Supreme Truth than to live a hundred years without ever seeing the Supreme Truth.

Kệ 100–102 — một câu hơn ngàn câu. Ba bài liền nói cùng một ý cho ba trường hợp: lời nói, bài kệ, câu Pháp Cú. Sự lặp lại là cố ý — nó chính là ví dụ cho điều nó đang nói.

Kệ 103 — bài kệ nặng nhất phẩm. Thắng ngàn người ngoài trận, không bằng tự thắng mình. Để ý bài kệ không chê người lính. Nó chỉ nói có một trận khó hơn, và trận ấy không ai đánh giùm được.

Kệ 106–115 — một ngày hơn trăm năm. Mười bài kệ cùng một khuôn: trăm năm làm việc kém giá trị không bằng một khoảnh khắc làm đúng. Đây là lời an ủi lớn cho người bắt đầu muộn — thời gian đã mất không quyết định được điều gì.

Dầu tại bãi chiến trường, thắng ngàn ngàn quân địch — tự thắng mình tốt hơn, thật chiến thắng tối thượng.
  • “Phẩm này chê sự học nhiều.” Không. Kệ 100 chê lời vô ích, không chê lời nhiều. Một ngàn câu có ích thì vẫn là một ngàn câu có ích.
  • “Tự thắng mình nghĩa là ép mình.” Chữ trong bài là jeyya — thắng, chứ không phải đè nén. Cả bộ Pháp Cú không chỗ nào dạy hành hạ bản thân.
  • “Trăm năm không bằng một ngày, vậy đời trước coi như bỏ.” Bài kệ nói ngược lại: một ngày làm đúng vẫn còn kịp, dù trăm năm đã trôi qua.
  • Ngành Oanh. Kệ 103, nói cho dễ hiểu: thắng bạn trong trò chơi thì dễ; thắng cơn giận của chính mình mới khó.
  • Ngành Thiếu. Kệ 100. Cho các em thử: viết một câu duy nhất mà em muốn nhớ cả năm. Rồi bàn vì sao khó chọn.
  • Huynh Trưởng. Kệ 106–115 rất hợp cho ai vừa nhận trách nhiệm mới và thấy mình bắt đầu muộn.
  • Kệ 100 nói một câu có nghĩa hơn ngàn lời vô ích. Câu nào em nhớ lâu nhất, và vì sao nhớ được?
  • Kệ 103: vì sao tự thắng mình lại khó hơn thắng ngàn người?
  • Kệ 106–115 lặp cùng một khuôn mười lần. Vì sao kinh lại lặp nhiều như vậy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 7/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Acharya Buddharakkhita trên accesstoinsight.org. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.