G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 7
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm VII

Phẩm A-La-Hán

Arahantavagga — Pháp Cú kệ 90–99 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm A-La-Hán

Mười bài kệ này không dạy phải làm gì. Chúng tả — tả một người đã đi hết con đường: không còn sầu, không còn trói buộc, đi đâu cũng nhẹ. Đọc phẩm này giống như xem chân dung hơn là nghe lời khuyên.

  • Phẩm thứ bảy của Kinh Pháp Cú. Gồm 10 bài kệ, từ số 90 đến 99 — phẩm ngắn nhất trong những phẩm đầu.
  • Đặt ngay sau Phẩm Hiền Trí: vừa nói xong nên thân cận ai, giờ tả người đã đi tới cuối con đường ấy.
  • Chứa kệ 98–99, hai bài được trích rất nhiều: nơi nào bậc La-Hán trú, nơi ấy khả ái — dù là làng mạc hay rừng sâu.

Arahant nghĩa gốc là “bậc xứng đáng” — xứng đáng được cúng dường. Trong Phật giáo Nguyên thủy, đây là quả vị cuối cùng: người đã đoạn tận phiền não, không còn tái sinh. Phẩm này không bàn về giáo lý ấy; nó chỉ tả người ấy trông ra sao trong đời thường.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
arahantbậc xứng đáng, đã đoạn tận lậu hoặcsuốt phẩm
gataddhinongười đã đi hết đường90
vippamuttassađã hoàn toàn giải thoát90
haṁsācon thiên nga91
suññato animittokhông tánh, vô tướng92
ramaṇīyaṁkhả ái, đáng ưa thích98, 99
vanaṁ / gāmorừng / làng98, 99

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

90
Jīvakapañhavatthu — Chuyện câu hỏi của lương y Jīvaka
Gataddhino visokassa,
vippamuttassa sabbadhi;
Sabbaganthappahīnassa,
pariḷāho na vijjati.
Đích đã đến, không sầu,
Giải thoát ngoài tất cả,
Đoạn trừ mọi buộc ràng,
Vị ấy không nhiệt não.
The fever of passion exists not for him who has completed the journey, who is sorrowless and wholly set free, and has broken all ties.
91
Mahākassapattheravatthu — Chuyện Tôn giả Đại Ca-diếp
Uyyuñjanti satīmanto,
na nikete ramanti te;
Haṁsāva pallalaṁ hitvā,
okamokaṁ jahanti te.
Tự sách tấn, chánh niệm,
Không thích cư xá nào,
Như ngỗng trời rời ao,
Bỏ sau mọi trú ẩn.
The mindful ones exert themselves. They are not attached to any home; like swans that abandon the lake, they leave home after home behind.
92
Belaṭṭhasīsattheravatthu — Chuyện Tôn giả Belaṭṭhasīsa
Yesaṁ sannicayo natthi,
ye pariññātabhojanā;
Suññato animitto ca,
vimokkho yesaṁ gocaro;
Ākāseva sakuntānaṁ,
gati tesaṁ durannayā.
Tài sản không chất chứa,
Ăn uống biết liễu tri,
Tự tại trong hành xứ,
"Không, vô tướng, giải thoát,"
Như chim giữa hư không,
Hướng chúng đi khó tìm.
Those who do not accumulate and are wise regarding food, whose object is the Void, the Unconditioned Freedom — their track cannot be traced, like that of birds in the air.
93
Anuruddhattheravatthu — Chuyện Tôn giả A-nậu-lâu-đà (Anuruddha)
Yassāsavā parikkhīṇā,
āhāre ca anissito;
Suññato animitto ca,
vimokkho yassa gocaro;
Ākāseva sakuntānaṁ,
padaṁ tassa durannayaṁ.
Ai lậu hoặc đoạn sạch,
Ăn uống không tham đắm,
Tự tại trong hành xứ,
"Không, vô tướng, giải thoát."
Như chim giữa hư không,
Dấu chân thật khó tìm.
He whose cankers are destroyed and who is not attached to food, whose object is the Void, the Unconditioned Freedom — his path cannot be traced, like that of birds in the air.
94
Mahākaccāyanattheravatthu — Chuyện Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
Yassindriyāni samathaṅgatāni,
Assā yathā sārathinā sudantā;
Pahīnamānassa anāsavassa,
Devāpi tassa pihayanti tādino.
Ai nhiếp phục các căn,
Như đánh xe điều ngự,
Mạn trừ, lậu hoặc dứt,
Người vậy, Chư Thiên mến.
Even the gods hold dear the wise one, whose senses are subdued like horses well trained by a charioteer, whose pride is destroyed and who is free from the cankers.
95
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Tôn giả Xá-lợi-phất
Pathavisamo no virujjhati,
Indakhilupamo tādi subbato;
Rahadova apetakaddamo,
Saṁsārā na bhavanti tādino.
Như đất, không hiềm hận,
Như cột trụ, kiên trì,
Như hồ, không bùn nhơ,
Không luân hồi, vị ấy.
There is no more worldly existence for the wise one who, like the earth, resents nothing, who is firm as a high pillar and as pure as a deep pool free from mud.
96
Kosambivāsitissattherasāmaṇeravatthu — Chuyện chú sa-di của Tôn giả Tissa xứ Kosambi
Santaṁ tassa manaṁ hoti,
santā vācā ca kamma ca;
Sammadaññāvimuttassa,
upasantassa tādino.
Người tâm ý an tịnh,
Lời an, nghiệp cũng an,
Chánh trí, chơn giải thoát,
Tịnh lạc là vị ấy.
Calm is his thought, calm his speech, and calm his deed, who, truly knowing, is wholly freed, perfectly tranquil and wise.
97
Sāriputtattheravatthu — Chuyện Tôn giả Xá-lợi-phất
Assaddho akataññū ca,
sandhicchedo ca yo naro;
Hatāvakāso vantāso,
sa ve uttamaporiso.
Không tin, hiểu vô vi,
Người cắt mọi hệ lụy,
Cơ hội tận, xả ly,
Vị ấy thật tối thượng.
The man who is without blind faith, who knows the Uncreated, who has severed all links, destroyed all causes (for karma, good and evil), and thrown out all desires — he, truly, is the most excellent of men.
98
Khadiravaniyarevatattheravatthu — Chuyện Tôn giả Revata ở rừng Khadira
Gāme vā yadi vāraññe,
Ninne vā yadi vā thale;
Yattha arahanto viharanti,
Taṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ.
Làng mạc hay rừng núi,
Thung lũng hay đồi cao,
La Hán trú chỗ nào,
Đất ấy thật khả ái.
Inspiring, indeed, is that place where Arahants dwell, be it a village, a forest, a vale, or a hill.
99
Aññataraitthivatthu — Chuyện một người nữ
Ramaṇīyāni araññāni,
yattha na ramatī jano;
Vītarāgā ramissanti,
na te kāmagavesino.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc.
Inspiring are the forests in which worldlings find no pleasure. There the passionless will rejoice, for they seek no sensual pleasures.

Kệ 91 — con thiên nga bỏ ao. Thiên nga rời ao không phải vì ghét ao. Nó chỉ không để lại gì. Hình ảnh này nói về sự ra đi không vướng, chứ không nói về sự chối bỏ.

Kệ 92 — “như chim giữa hư không, dấu chân thật khó tìm”. Bài kệ tả một người đi qua đời mà không để lại vết móc. Không phải vô tích sự — mà là không để lại chỗ cho dính mắc bám vào.

Kệ 98–99 — chỗ nào cũng khả ái. Hai bài kệ này rất dễ bị đọc thành lời khen cảnh vật. Không phải. Chúng nói cái làm cho một nơi trở nên khả ái là người ở đó, không phải phong cảnh. Rừng đẹp mà tâm loạn thì rừng không giúp gì — đúng như chuyện Trưởng lão Meghiya ở Phẩm Tâm.

Làng mạc hay rừng núi, nơi nào bậc La-Hán trú, nơi ấy đều khả ái.
  • “A-La-Hán là người lạnh lùng, không cảm xúc.” Phẩm này tả một người không còn sầuđi đâu cũng nhẹ — đó là mô tả của sự thanh thản, không phải của sự vô cảm.
  • “Kệ 98 khen rừng núi hơn làng mạc.” Bài kệ nói cả hai đều khả ái, miễn là có bậc ấy ở đó. Ý chính nằm ở người, không ở nơi.
  • “Đây là chuyện xa vời, không liên quan tới mình.” Phẩm này để biết đường đi tới đâu. Không ai bắt tới đích ngay, nhưng biết đích ở đâu thì bước đi khác hẳn.
  • Ngành Oanh. Kệ 91, con thiên nga: bay đi mà không để lại gì. Hỏi các em: khi rời một chỗ chơi, em có để lại rác không? Bắt đầu từ nghĩa đen là được.
  • Ngành Thiếu. Kệ 98–99. Hỏi: có ai mà hễ họ tới là cả phòng dễ chịu hẳn lên không? Người đó làm gì mà được vậy?
  • Huynh Trưởng. Kệ 98–99 là bài kệ nên đọc trước khi tổ chức trại — vì nó nhắc rằng chỗ trại đẹp không làm nên một kỳ trại tốt.
  • Kệ 92 nói dấu chân bậc ấy khó tìm. Sống mà “không để lại dấu” nghĩa là gì trong đời thường?
  • Kệ 98–99: vì sao một nơi trở nên khả ái vì người ở đó chứ không vì cảnh?
  • Cả phẩm chỉ tả chứ không dạy. Vì sao đôi khi tả lại có sức hơn dạy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 7/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Acharya Buddharakkhita trên accesstoinsight.org. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.