G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 6
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm VI

Phẩm Hiền Trí

Paṇḍitavagga — Pháp Cú kệ 76–89 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Hiền Trí

Phẩm này mở bằng một bài kệ mà ai đọc cũng nhớ, và cũng ít ai làm được: hãy xem người chỉ ra lỗi của mình như người chỉ cho mình chỗ chôn vàng. Không phải người khen — người chỉ lỗi.

  • Phẩm thứ sáu của Kinh Pháp Cú. Gồm 14 bài kệ, từ số 76 đến 89.
  • Đi liền sau Phẩm Ngu, và đó là dụng ý: vừa nói xong ai không nên thân cận, giờ nói nên tìm ai.
  • Chứa hình ảnh nổi tiếng nhất về sự vững chãi: tảng đá không lay trước gió (kệ 81), và người trí đục đá làm bờ.

Paṇḍita thường dịch là “hiền trí” hay “bậc trí”. Trong phẩm này, dấu hiệu nhận ra một paṇḍita không phải là biết nhiều, mà là chịu được sự chỉ lỗi, không lay trước khen chê, và tự sửa được mình.

Chữ PāliNghĩaXuất hiện ở kệ
paṇḍitabậc hiền trísuốt phẩm
vajjadassinngười thấy và chỉ ra lỗi76
nidhīnaṁ pavattāraṁngười chỉ chỗ chôn của báu76
selotảng đá81
nindā / pasaṁsāchê / khen81
attānaṁ damayantitự điều phục mình80
anupubbenalần lượt, từ từ239 (ý tương tự)

Mỗi bài kệ ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt của HT. Thích Minh Châu, rồi bản tiếng Anh. Kệ nào có ghi tích truyện thì để tên phía trên.

76
Truyện Trưởng lão Rādha (Rādhattheravatthu).
Nidhīnaṁva pavattāraṁ, yaṁ passe vajjadassinaṁ;
Niggayhavādiṁ medhāviṁ, tādisaṁ paṇḍitaṁ bhaje;
Tādisaṁ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo.
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
Should one find a man who points out faults and who reproves, let him follow such a wise and sagacious person as one would a guide to hidden treasure. It is always better, and never worse, to cultivate such an association.
77
Truyện hai Tôn giả Assaji và Punabbasuka.
Ovadeyyānusāseyya, asabbhā ca nivāraye;
Satañhi so piyo hoti, asataṁ hoti appiyo.
Những người hay khuyên dạy,
Ngăn người khác làm ác,
Được người hiền kính yêu,
Bị người ác không thích.
Let him admonish, instruct and shield one from wrong; he, indeed, is dear to the good and detestable to the evil.
78
Truyện Trưởng lão Channa (Channattheravatthu).
Na bhaje pāpake mitte, na bhaje purisādhame;
Bhajetha mitte kalyāṇe, bhajetha purisuttame.
Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân.
Hãy thân người bạn lành,
Hãy thân bậc thượng nhân.
Do not associate with evil companions; do not seek the fellowship of the vile. Associate with the good friends; seek the fellowship of noble men.
79
Truyện vua Mahākappina.
Dhammapīti sukhaṁ seti, vippasannena cetasā;
Ariyappavedite dhamme, sadā ramati paṇḍito.
Pháp hỷ đem an lạc,
Với tâm tư thuần tịnh;
Người trí thường hoan hỷ,
Với pháp bậc Thánh thuyết.
He who drinks deep the Dhamma lives happily with a tranquil mind. The wise man ever delights in the Dhamma made known by the Noble One (the Buddha).
80
Truyện Sa-di Paṇḍita.
Udakañhi nayanti nettikā,
Usukārā namayanti tejanaṁ;
Dāruṁ namayanti tacchakā,
Attānaṁ damayanti paṇḍitā.
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ làm tên nắn tên,
Người thợ mộc uốn gỗ,
Bậc trí nhiếp tự thân.
Irrigators regulate the rivers; fletchers straighten the arrow shaft; carpenters shape the wood; the wise control themselves.
81
Truyện Trưởng lão Lakuṇḍaka Bhaddiya.
Selo yathā ekaghano, vātena na samīrati;
Evaṁ nindāpasaṁsāsu, na samiñjanti paṇḍitā.
Như đá tảng kiên cố,
Không gió nào dao động,
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không dao động.
Just as a solid rock is not shaken by the storm, even so the wise are not affected by praise or blame.
82
Truyện nữ cư sĩ Kāṇamātā.
Yathāpi rahado gambhīro, vippasanno anāvilo;
Evaṁ dhammāni sutvāna, vippasīdanti paṇḍitā.
Như hồ nước sâu thẳm,
Trong sáng, không khuấy đục,
Cũng vậy, nghe chánh pháp,
Người trí hưởng tịnh lạc.
On hearing the Teachings, the wise become perfectly purified, like a lake deep, clear and still.
83
Truyện năm trăm vị tỳ-kheo (nhân duyên ở Verañjā).
Sabbattha ve sappurisā cajanti,
Na kāmakāmā lapayanti santo;
Sukhena phuṭṭhā atha vā dukhena,
Na uccāvacaṁ paṇḍitā dassayanti.
Người hiền bỏ tất cả,
Người lành không bàn dục,
Dầu cảm thọ lạc khổ,
Bậc trí không vui buồn.
The good renounce (attachment for) everything. The virtuous do not prattle with a yearning for pleasures. The wise show no elation or depression when touched by happiness or sorrow.
84
Truyện Trưởng lão Dhammika.
Na attahetu na parassa hetu,
Na puttamicche na dhanaṁ na raṭṭhaṁ;
Na iccheyya adhammena samiddhimattano,
Sa sīlavā paññavā dhammiko siyā.
Không vì mình, vì người,
Không cầu được con cái,
Không tài sản quốc độ,
Không cầu mình thành tựu,
Với việc làm phi pháp.
Vị ấy thật trì giới,
Có trí tuệ, đúng pháp.
He is indeed virtuous, wise, and righteous who neither for his own sake nor for the sake of another (does any wrong), who does not crave for sons, wealth, or kingdom, and does not desire success by unjust means.
85
Truyện thính chúng nghe pháp suốt đêm (Dhammassavana).
Appakā te manussesu, ye janā pāragāmino;
Athāyaṁ itarā pajā, tīramevānudhāvati.
Ít người giữa nhân loại,
Đến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Few among men are those who cross to the farther shore. The rest, the bulk of men, only run up and down the hither bank.
86
Cùng nhân duyên với kệ 85.
Ye ca kho sammadakkhāte, dhamme dhammānuvattino;
Te janā pāramessanti, maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Những ai hành trì pháp,
Theo chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.
But those who act according to the perfectly taught Dhamma will cross the realm of Death, so difficult to cross.
87
Truyện năm trăm vị tỳ-kheo khách (Pañcasata Āgantukabhikkhu Vatthu), chung cho kệ 87–89.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya,
Sukkaṁ bhāvetha paṇḍito;
Okā anokamāgamma,
Viveke yattha dūramaṁ.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng.
Bỏ nhà, sống không nhà,
Sống viễn ly khó lạc.
Abandoning the dark way, let the wise man cultivate the bright path. Having gone from home to homelessness, let him yearn for that delight in detachment, so difficult to enjoy.
88
Truyện năm trăm vị tỳ-kheo khách (Pañcasata Āgantukabhikkhu Vatthu).
Tatrābhiratimiccheyya, hitvā kāme akiñcano;
Pariyodapeyya attānaṁ, cittaklesehi paṇḍito.
Hãy cầu vui Niết Bàn,
Bỏ dục, không sở hữu,
Kẻ trí tự thanh lọc,
Cấu uế từ nội tâm.
There let him seek delight. Giving up sensual pleasures, with no attachment, let the wise man cleanse himself of defilements of the mind.
89
Truyện năm trăm vị tỳ-kheo khách.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu, sammā cittaṁ subhāvitaṁ;
Ādānapaṭinissagge, anupādāya ye ratā;
Khīṇāsavā jutimanto, te loke parinibbutā.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc, sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Those whose minds have reached full excellence in the factors of enlightenment, who, having renounced acquisitiveness, rejoice in not clinging to things — rid of cankers, glowing with wisdom, they have attained Nibbana in this very life.

Kệ 76 — người chỉ lỗi. Hình ảnh rất cụ thể: người ấy chỉ cho ta chỗ chôn của báu. Nghĩa là lỗi của mình vốn đã có sẵn ở đó, chỉ là mình không thấy. Người chỉ ra không tạo thêm lỗi nào cả — họ chỉ mở đất lên.

Kệ 80 — thợ tưới nước, thợ làm tên, thợ mộc, người trí. Ba nghề đầu đều là uốn nắn vật liệu. Nghề thứ tư uốn nắn chính mình. Cùng một động từ, và đó là điều bài kệ muốn nói: tự sửa mình là một tay nghề, phải học và phải luyện.

Kệ 81 — tảng đá. Bài kệ không nói người trí thì vô cảm. Tảng đá vẫn bị gió thổi vào; nó chỉ không di chuyển theo gió. Nghe khen mà không phồng lên, nghe chê mà không sụp xuống — đó là không lay, không phải là không nghe.

Kệ 85–86 — số ít qua bờ. Hai bài kệ nói phần lớn người ta chạy quanh bờ này, chỉ ít người đi tới bờ kia. Đây là lời tả, không phải lời chê. Nó chuẩn bị tinh thần cho người tu: đông người làm một việc không có nghĩa việc ấy đúng đường.

Hãy xem người chỉ lỗi như người chỉ chỗ chôn vàng.
  • “Kệ 76 dạy phải nghe mọi lời chê.” Bài kệ nói tới người thấy lỗi và chỉ ra — người có thấy thật. Không phải người chê bừa.
  • “Kệ 81 dạy phải lạnh lùng.” Tảng đá vẫn ở giữa gió. Không lay khác với không cảm.
  • “Ít người qua bờ, vậy tu là chuyện của số ít đặc biệt.” Bài kệ tả thực trạng chứ không lập một hàng rào. Kệ 80 vừa nói ngay trước đó rằng ai cũng tự sửa mình được.
  • Ngành Oanh. Kệ 80: thợ tưới nước dẫn nước, thợ làm tên uốn tên, thợ mộc uốn gỗ — còn em uốn gì? Cho các em tự trả lời.
  • Ngành Thiếu. Kệ 76. Hỏi: lần gần nhất có người chỉ ra lỗi của em, em thấy thế nào? Rồi mới đọc bài kệ. Đừng đọc trước.
  • Huynh Trưởng. Kệ 81 rất hợp để nói trong buổi họp Ban Huynh Trưởng — nhất là sau một sinh hoạt có người khen và có người chê.
  • Vì sao người chỉ lỗi cho ta lại được ví với người chỉ chỗ chôn vàng, chứ không phải người cho ta vàng?
  • Kệ 81: không lay trước khen chê — khác gì với việc không quan tâm ai nghĩ gì?
  • Kệ 80 xếp việc tự sửa mình ngang với ba nghề thủ công. Một tay nghề thì cần luyện. Em luyện bằng cách nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — lấy thẳng tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, đối chiếu cả bảng dị bản chính thức, ngày 7/8/2026. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu, đối chiếu chéo từ nhiều nguồn Việt ngữ. Bản tiếng Anh của Acharya Buddharakkhita trên accesstoinsight.org. Mỗi phẩm đều qua một lượt soi lại độc lập để tìm chỗ sai.

Một lời thưa: kho dữ liệu SuttaCentral hiện chưa có tệp bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu cho Kinh Pháp Cú, nên bản Việt ở đây lấy từ các nguồn Việt ngữ đăng lại và đối chiếu chéo. Kính mong quý anh chị đối chiếu lần cuối với bản in của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, và báo cho chúng tôi nếu thấy chỗ nào khác.