G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Pháp Cú · Phẩm 1
Tiểu Bộ Kinh · Pháp Cú · Phẩm I

Phẩm Song Yếu

Yamakavagga — Pháp Cú kệ 1–20 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTiểu BộPháp CúPhẩm Song Yếu

Hai bài kệ mở đầu toàn bộ Kinh Pháp Cú thật ra là một bài nói hai lần — một lần với tâm ô nhiễm, một lần với tâm thanh tịnh. Đó chính là cách phẩm này được dựng: không điều gì được nói một mình. Mỗi lời dạy đều hiện ra ở mặt tối rồi mặt sáng, đặt sát cạnh nhau, để không thể nhầm bên nào ra bên nào.

Phẩm này nằm ở đâu

  • SáchKinh Pháp Cú, tập thứ 2 của Tiểu Bộ
  • Vị trí — phẩm thứ nhất trong 26 phẩm, gồm kệ 1–20
  • Tên PāliYamakavagga · yamaka nghĩa là cặp đôi, sinh đôi
  • Chuyện nền — 14 câu chuyện, chép trong Dhammapada-aṭṭhakathā (chú giải)

Mười cặp, không một bài lẻ

Hai mươi bài kệ, mười cặp. Trong mỗi cặp, bài trước chỉ ra cái mất, bài sau chỉ ra cái được — bằng đúng những chữ ấy, chỉ đổi một điều. Kệ 1 và kệ 2 khác nhau đúng hai chữ: paduṭṭhena (ô nhiễm) đổi thành pasannena (trong sáng); dukkham (khổ) đổi thành sukham (lạc). Còn lại giống hệt.

Đây không phải cách viết cho đẹp. Đó là một cách dạy: người ta hiểu một điều rõ nhất khi thấy nó nằm cạnh cái ngược lại — và hai câu càng giống nhau về chữ, thì chỗ khác nhau duy nhất càng nổi bật.

CặpKệĐiều được đặt cạnh nhau
11 – 2Ý ô nhiễm ↔ ý thanh tịnh
23 – 4Ôm hiềm hận ↔ không ôm hiềm hận
35 – 6Lấy hận diệt hận ↔ nhớ mình sẽ chết
47 – 8Không hộ trì các căn ↔ khéo hộ trì các căn
59 – 10Mặc cà-sa mà tâm uế ↔ xứng với cà-sa
611 – 12Tà tư duy ↔ chánh tư duy
713 – 14Tâm không tu ↔ tâm khéo tu
815 – 16Kẻ ác sầu hai đời ↔ người phước vui hai đời
917 – 18Than hai đời ↔ sướng hai đời
1019 – 20Thuộc nhiều mà không hành ↔ biết ít mà hành

Đủ ba thứ tiếngPāli · Việt · Anh · kèm tên chuyện nền của từng cặp

1
Chuyện Trưởng lão Cakkhupāla (Hộ Nhãn)
Manopubbaṅgamā dhammā,
manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena,
bhāsati vā karoti vā;
Tato naṁ dukkhamanveti,
cakkaṁva vahato padaṁ.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.
If with an impure mind a person speaks or acts, suffering follows him like the wheel that follows the foot of the ox.
2
Chuyện cậu Maṭṭhakuṇḍali (Kim Hoàn)
Manopubbaṅgamā dhammā,
manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena,
bhāsati vā karoti vā;
Tato naṁ sukhamanveti,
chāyāva anapāyinī.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
If with a pure mind a person speaks or acts, happiness follows him like his never-departing shadow.
3
Chuyện Trưởng lão Tissa
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ upanayhanti,
veraṁ tesaṁ na sammati.
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi,
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi.
“He insulted me, hit me, beat me, robbed me” — for those who brood on this, hostility isn’t stilled.
4
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ nupanayhanti,
veraṁ tesūpasammati.
Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi,
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận thù được tự nguôi.
…for those who don’t brood on this, hostility is stilled.
5
Chuyện nữ Dạ-xoa Kāḷī
Na hi verena verāni,
sammantīdha kudācanaṁ;
Averena ca sammanti,
esa dhammo sanantano.
Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
Hostilities aren’t stilled through hostility, regardless. Hostilities are stilled through non-hostility: this, an unending truth.
6
Chuyện chư Tỳ-kheo ở Kosambī
Pare ca na vijānanti,
mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
tato sammanti medhagā.
Và người khác không biết,
Chúng ta đây bị hoại.
Chỗ ấy, ai hiểu được
Tranh luận được lắng êm.
Unlike those who don’t realize that we’re here on the verge of perishing, those who do: their quarrels are stilled.
7
Chuyện Trưởng lão Mahākāḷa (Đại Hắc)
Subhānupassiṁ viharantaṁ,
indriyesu asaṁvutaṁ;
Bhojanamhi cāmattaññuṁ,
kusītaṁ hīnavīriyaṁ;
Taṁ ve pasahati māro,
vāto rukkhaṁva dubbalaṁ.
Ai sống nhìn tịnh tướng,
Không hộ trì các căn,
Ăn uống thiếu tiết độ,
Biếng nhác, chẳng tinh cần.
Ma uy hiếp kẻ ấy,
Như cây yếu trước gió.
Mara overcomes the one who lives seeing the beautiful, unrestrained in the senses — as the wind overcomes a weak tree.
8
Asubhānupassiṁ viharantaṁ,
indriyesu susaṁvutaṁ;
Bhojanamhi ca mattaññuṁ,
saddhaṁ āraddhavīriyaṁ;
Taṁ ve nappasahati māro,
vāto selaṁva pabbataṁ.
Ai sống quán bất tịnh,
Khéo hộ trì các căn,
Ăn uống có tiết độ,
Có lòng tin, tinh cần,
Ma không uy hiếp được,
Như núi đá, trước gió.
Mara cannot overcome such a one — as the wind cannot overcome a rocky mountain.
9
Chuyện Devadatta (Đề-Bà-Đạt-Đa)
Anikkasāvo kāsāvaṁ,
yo vatthaṁ paridahissati;
Apeto damasaccena,
na so kāsāvamarahati.
Ai mặc áo cà-sa,
Tâm chưa rời uế trược,
Không tự chế, không thực,
Không xứng áo cà-sa.
Whoever, unstained by stain, would put on the ochre robe — devoid of restraint and truth — is not worthy of it.
10
Yo ca vantakasāvassa,
sīlesu susamāhito;
Upeto damasaccena,
sa ve kāsāvamarahati.
Ai rời bỏ uế trược,
Giới luật khéo nghiêm trì,
Tự chế, sống chơn thực,
Thật xứng áo cà-sa.
But one who has spat out stain, is well-composed in virtues, endowed with restraint and truth: he is worthy of the ochre robe.
11
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-Lợi-Phất)
Asāre sāramatino,
sāre cāsāradassino;
Te sāraṁ nādhigacchanti,
micchāsaṅkappagocarā.
Không chân, tưởng chân thật,
Chân thật, thấy không chân,
Chúng không đạt chân thật,
Do tà tư, tà hạnh.
Those who regard non-essence as essence and see essence as non-, don’t get to the essence, ranging about in wrong resolves.
12
Sārañca sārato ñatvā,
asārañca asārato;
Te sāraṁ adhigacchanti,
sammāsaṅkappagocarā.
Chân thật, biết chân thật,
Không chân, biết không chân,
Chúng đạt được chân thật,
Do chánh tư, chánh hạnh.
But those who know essence as essence, and non-essence as non-, get to the essence, ranging about in right resolves.
13
Chuyện Trưởng lão Nanda
Yathā agāraṁ ducchannaṁ,
vuṭṭhī samativijjhati;
Evaṁ abhāvitaṁ cittaṁ,
rāgo samativijjhati.
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập.
As rain breaks through an ill-thatched house, so passion breaks through an undeveloped mind.
14
Yathā agāraṁ suchannaṁ,
vuṭṭhī na samativijjhati;
Evaṁ subhāvitaṁ cittaṁ,
rāgo na samativijjhati.
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
As rain does not break through a well-thatched house, so passion does not break through a well-developed mind.
15
Chuyện người đồ tể Cunda
Idha socati pecca socati,
pāpakārī ubhayattha socati;
So socati so vihaññati,
disvā kammakiliṭṭhamattano.
Nay sầu, đời sau sầu,
Kẻ ác, hai đời sầu;
Nó sầu, nó ưu não,
Thấy nghiệp uế mình làm.
Here he grieves, hereafter he grieves. In both worlds the evil-doer grieves, seeing the defilement of his own deeds.
16
Chuyện cư sĩ Dhammika
Idha modati pecca modati,
katapuñño ubhayattha modati;
So modati so pamodati,
disvā kammavisuddhimattano.
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui,
Nó vui, nó an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm.
Here he rejoices, hereafter he rejoices. In both worlds the doer of good rejoices, seeing the purity of his own deeds.
17
Chuyện Devadatta (Đề-Bà-Đạt-Đa)
Idha tappati pecca tappati,
pāpakārī ubhayattha tappati;
“Pāpaṁ me katan”ti tappati,
bhiyyo tappati duggatiṁ gato.
Nay than, đời sau than,
Kẻ ác, hai đời than,
Nó than: “Ta làm ác”,
Đọa cõi dữ, than hơn.
“Evil has been done by me” — so he is tormented; tormented all the more, gone to a bad destination.
18
Chuyện nàng Sumanādevī
Idha nandati pecca nandati,
katapuñño ubhayattha nandati;
“Puññaṁ me katan”ti nandati,
bhiyyo nandati suggatiṁ gato.
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Nó sướng: “Ta làm thiện”,
Sanh cõi lành, sướng hơn.
“Merit has been done by me” — so he delights; he delights all the more, gone to a good destination.
19
Chuyện hai vị Tỳ-kheo bằng hữu
Bahumpi ce saṁhita bhāsamāno,
na takkaro hoti naro pamatto;
Gopova gāvo gaṇayaṁ paresaṁ,
na bhāgavā sāmaññassa hoti.
Nếu người nói nhiều kinh,
Không hành trì, phóng dật;
Như kẻ chăn bò người,
Không phần Sa-môn hạnh.
If he recites many teachings but, heedless, doesn’t do what they say — like a cowherd counting the cattle of others — he has no share in the contemplative life.
20
Appampi ce saṁhita bhāsamāno,
dhammassa hoti anudhammacārī;
Rāgañca dosañca pahāya mohaṁ,
sammappajāno suvimuttacitto;
Anupādiyāno idha vā huraṁ vā,
sa bhāgavā sāmaññassa hoti.
Dầu nói ít kinh điển,
Nhưng hành pháp, tùy pháp,
Từ bỏ tham, sân, si,
Tỉnh giác, tâm giải thoát,
Không chấp thủ hai đời,
Dự phần Sa-môn hạnh.
If he recites next to nothing but follows the Dhamma in line with the Dhamma — abandoning passion, aversion, delusion — he has his share in the contemplative life.

Mấy chỗ đáng dừng lại

  • Kệ 1–2 không nói “tâm tạo ra vũ trụ”. Chữ dhammā ở đây chỉ các trạng thái tâm — điều đang khởi lên trong ta. Câu kinh nói: nói năng và hành động khởi từ ý nào thì quả đi theo ý ấy.
  • Kệ 5 là câu được trích nhiều nhất trong Tam Tạng. “Với hận diệt hận thù, đời này không có được.” Câu kế mới là chỗ mạnh: esa dhammo sanantano — “đây là định luật ngàn thu”, tức là một quy luật, không phải một lời khuyên.
  • Kệ 6 dựa trên chuyện có thật. Chư Tỳ-kheo ở Kosambī cãi nhau tới mức Đức Phật phải bỏ vào rừng ở một mình. Chữ Pāli yamāmase nghĩa là “chúng ta đang đi tới chỗ hoại diệt” — nhớ mình sẽ chết thì hết muốn cãi.
  • Kệ 9–10 là lời nặng nhất phẩm này. Nói thẳng: mặc áo cà-sa mà tâm chưa sạch thì không xứng với áo. Chuyện nền là chuyện Devadatta.
  • Kệ 19–20 khép phẩm bằng một câu cảnh tỉnh cho người học nhiều. Thuộc lòng cả bộ kinh mà không hành thì “như kẻ chăn bò người” — đếm bò của người khác, không con nào là của mình.

Đọc cho đúng ý

Thường hiểu““Ý dẫn đầu các pháp” nghĩa là tâm tạo ra mọi thứ, muốn gì được nấy.”
Kinh dạy

Chữ Pāli là dhammā, ở đây chỉ các trạng thái tâm, không phải vạn vật. Hai câu kế nói rõ phạm vi: “nói lên hay hành động”.

Bài kệ dạy về nghiệp: khởi từ ý nào thì quả theo ý ấy. Đó không phải phép “nghĩ là thành”.

Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā Dhp 1–2 (Pāli, ấn bản Mahāsaṅgīti)
Thường hiểu““Lấy oán báo oán” chỉ là lời khuyên nên nhường nhịn.”
Kinh dạy

Câu cuối kệ 5 là esa dhammo sanantano — “đây là định luật ngàn thu”. Kinh không khuyên, kinh nêu một quy luật.

Nghĩa là: lấy hận diệt hận thì không bao giờ xong, y như thả đá xuống nước mà mong nó nổi.

Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṁ Dhp 5
Thường hiểu“Kệ 6 nói “chúng ta đây bị hại”, tức là bị người khác làm hại.”
Kinh dạy

Chữ Pāli yamāmase nghĩa là “chúng ta đang đi tới chỗ hoại diệt”, tức là ai rồi cũng phải chết — không phải bị ai hại.

Một vài bản in tiếng Việt ghi “bị hại”, dễ khiến người đọc hiểu ngược. Hai bản dịch tiếng Anh đều hiểu là perishing. Trang này dùng “bị hoại”.

mayamettha yamāmase — “we’re here on the verge of perishing” Dhp 6 · đối chiếu Pāli + Buddharakkhita + Ṭhānissaro
Thường hiểu“Kệ 9–10 chỉ nói về người xuất gia, không liên quan tới mình.”
Kinh dạy

Đúng là chuyện nền nói về chiếc y. Nhưng ý bài kệ là: hình thức bên ngoài không làm nên phẩm chất bên trong.

Đoàn sinh mặc đồng phục, đeo huy hiệu Hoa Sen cũng nằm trong cùng một lời dạy ấy.

Dhp 9–10
Thường hiểu“Học thuộc nhiều kinh là tu giỏi.”
Kinh dạy

Kệ 19 nói người thuộc nhiều mà không hành thì “như kẻ chăn bò người”không có phần trong Sa-môn hạnh.

Kệ 20 nói ngược lại: biết ít mà hành pháp, tùy pháp thì có phần. Phẩm mở đầu bằng tâm, và khép lại bằng việc làm.

Gopova gāvo gaṇayaṁ paresaṁ Dhp 19–20

Đem phẩm này vào đoànĐây là kho bài Câu Chuyện Dưới Cờ tốt nhất trong Tam Tạng

  • Câu Chuyện Dưới Cờ — mỗi tuần một cặp. Mười cặp là mười tuần, vừa đúng một khóa.
  • Ngành Oanh — cặp 13–14 (mái nhà lợp vụng và mái nhà lợp khéo). Hình ảnh này các em nhỏ hiểu ngay.
  • Khi trong đoàn có chuyện giận nhau — đọc cặp 3–4 và kệ 5. Không cần giảng thêm gì nhiều.
  • Ngành Thiếu — kệ 19–20, hỏi thẳng: em thuộc bao nhiêu điều luật, và em làm được mấy điều?
  • Huynh Trưởng — kệ 9–10 để tự soi: mặc áo lam, đeo huy hiệu, thì phần bên trong đã tương xứng chưa?
  • Học thuộc lòng — bản Việt của HT. Thích Minh Châu là thơ năm chữ, các em thuộc rất nhanh. Cho học kệ 1, 2, 5 trước.

Sáu câu để hỏi các em

  • Kệ 1 và kệ 2 chỉ khác nhau hai chữ. Vì sao Đức Phật lại nói gần như y hệt hai lần?
  • “Là định luật ngàn thu” — vì sao gọi là định luật chứ không gọi là lời khuyên?
  • Kệ 6 nói nhớ mình sẽ chết thì hết cãi nhau. Em thấy điều ấy có thật không?
  • Mái nhà lợp vụng thì mưa dột. Cái gì trong tâm em đang “dột”?
  • Kệ 9–10 nói về chiếc áo. Áo lam của mình có nằm trong lời dạy ấy không?
  • “Kẻ chăn bò người” nghĩa là gì? Em có bao giờ đếm bò của người khác chưa?
Đọc tiếp

Còn 25 phẩm nữa

Hai mươi sáu phẩm, 423 bài kệ. Đây mới là phẩm thứ nhất.

Mục lục 26 phẩm →

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti qua giao diện dữ liệu của suttacentral.net, lấy ngày 7/8/2026 — từng dòng một, không gõ lại theo trí nhớ. Bản tiếng Việt là bản dịch kệ của HT. Thích Minh Châu (bản điện tử trên suttacentral.net), riêng kệ 6 trang này dùng “bị hoại” thay vì “bị hại” và đã nói rõ lý do ở Phần V. Bản tiếng Anh đối chiếu hai dịch giả trên accesstoinsight.org: Acharya BuddharakkhitaṬhānissaro Bhikkhu; chỗ nào hai bản khác nhau về nghĩa thì trang này nêu ra chứ không giấu. Tên 14 chuyện nền lấy theo tiêu đề vatthu trong ấn bản Pāli. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.