G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp Ngành Oanh · Bậc Chân Cứng Bài 09
Bậc Chân Cứng · Lịch Sử Đức Phật

Lịch Sử Đức Phật Thích Ca

Cuộc đời Thái Tử Tất Đạt Đa — từ xuất gia tìm Đạo, thành Phật, hoằng pháp bốn mươi chín năm đến khi nhập Niết Bàn

Lịch sử cuộc đời Đức Phật Thích Ca, từ khi xuất gia tìm Đạo cho đến khi nhập Niết Bàn.

Xuất Gia Tìm Đạo

Nửa đêm mùng Tám tháng Hai, Thái Tử Tất Đạt Đa cùng người hầu cận là Xa Nặc cỡi ngựa Kiền Trắc vượt cửa thành ra đi. Đến sông A Nô Ma, Ngài xuống ngựa, cắt tóc, cởi đồ trang sức giao cho Xa Nặc mang về cung báo cho Vua Tịnh Phạn biết ý định đi tìm Đạo giải thoát cho chúng sanh của Thái Tử. Trên đường đi gặp người thợ săn, Thái Tử cởi áo mình đổi lấy quần áo của người thợ săn, cương quyết từ giã cảnh đời xa hoa, vương giả.

Trước hết Thái Tử tìm hiểu và tu những Đạo đang có ở trong nước, tìm xem Đạo nào là chân chánh giải thoát cho tất cả chúng sanh. Đến thành Vương Xá, rừng Bạt Già, Thái Tử hỏi Đạo của các vị Tiên tu khổ hạnh để được lên các cõi trời, nhưng nhận thấy chưa phải là Đạo chân chánh giải thoát. Đến phía Bắc thành Tỳ Xá Lỵ, Thái Tử hỏi Đạo ông A La La tu để lên cõi trời Vô Tưởng, nhưng Ngài cảm thấy cũng chưa phải là Đạo giải thoát. Rồi Ngài đến hỏi Đạo ông Uất Đầu Lam Phất, tu để sanh về cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; Thái Tử đã tu theo và chứng được, nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.

Sau ba lần hỏi Đạo, Thái Tử nhận thức rằng các Đạo hiện hành không có Đạo nào là chân chánh giải thoát, Ngài nghĩ phải tự mình tu tập mới tìm rõ Đạo chân chánh. Đến rừng Ưu Lâu Tần La, phía Nam núi Tượng Đầu, bên sông Ni Liên, Ngài cùng năm anh em ông Kiều Trần Như tu khổ hạnh. Trong sáu năm, Ngài cương quyết ép xác mình cho đến mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo hoặc một hạt mè mà thôi. Đến một ngày kia thân xác Ngài tiều tụy, té xỉu chết giấc. Lúc ấy có một người đàn bà tên Tu Xà Đề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền mang sữa đến dâng. Khi tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng tu khổ hạnh chưa phải là Đạo giải thoát. Ngài xuống sông Ni Liên tắm rửa sạch sẽ, rồi đến gốc cây Bồ Đề trải cỏ làm nệm, ngồi tọa thiền và thề rằng: “Nếu ta không chứng Đạo giải thoát cho chúng sanh thì thề trọn đời không rời khỏi cây Bồ Đề này.”

Thành Đạo

Trong lúc Ngài định tâm tu tập, các Ma Vương sợ Ngài thành Đạo sẽ giác ngộ cho muôn loài, bèn rủ nhau đến tìm cách phá Ngài, nhưng Thái Tử quyết tâm tu tập đã thắng tất cả những sự phá phách của Ma Vương. Sau bốn mươi chín (49) ngày tu tập dưới gốc cây Bồ Đề, đến đêm mùng Tám tháng Mười Hai, Thái Tử chứng Đạo vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.

Hoằng Pháp Độ Sanh

Đức Phật Thích Ca đến vườn Lộc Uyển thuyết Pháp Bốn Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh là nhóm Kiều Trần Như, và họ trở thành đệ tử Phật; từ đó mới có đủ ba ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật thuyết Pháp và giáo hóa chúng sanh hơn bốn mươi chín (49) năm, Ngài độ cho vô số đệ tử giàu nghèo sang hèn đủ mọi tầng lớp. Trong lúc còn tại thế, Ngài đi thuyết Pháp trong chín (9) tháng nắng ở xứ Ấn Độ, còn ba tháng mưa thì ở lại tịnh xá để chuyên tu.

Nhập Niết Bàn

Biết mình sắp nhập Niết Bàn, đêm trăng tròn tháng hai Ấn Độ, Ngài tụ tập các hàng đệ tử tại xứ Câu Ly, rừng Xa Nại, treo võng nơi hai cây Song Thọ, giảng dạy khuyên bảo lần cuối, trao y bát cho đệ tử là ngài Ca Diếp để tiếp tục truyền Đạo, rồi từ giã mọi người mà nhập Niết Bàn. Ngài hưởng thọ tám mươi (80) tuổi.

Từ ngôi Thái Tử cao sang, Đức Phật Thích Ca đã từ bỏ tất cả để đi tìm con đường giải thoát cho muôn loài — một tấm gương lớn về ý chí, từ bi và trí tuệ cho hàng hậu thế noi theo.

The life of Buddha Shakyamuni, from his renunciation in search of the Way to his final nirvana.

The Great Renunciation

During the middle of the night on February 8th, Prince Tất Đạt Đa (Siddhartha), riding his horse Kiền Trắc together with his closest servant Xa Nặc, left the palace. Arriving at the A Nô Ma river, he cut his hair, took off his jewelry and gave them to Xa Nặc to bring back to King Tịnh Phạn, so the King would know that the prince had set out on a quest to find a way of freeing all beings from suffering. On his journey he met a hunter and traded clothing with him, resolutely leaving behind his life of royalty and luxury.

He first studied and practiced all the existing religious paths in the country, seeking which one truly led to liberation for all beings. In the city of Vương Xá, in the Bạt Già forest, he studied with ascetic sages the practice of austerities meant to reach the heavenly realms, but he saw that it was not the true path of liberation. To the north, in the city of Tỳ Xá Lỵ, he studied under A La La the method of reaching the heaven called Vô Tưởng (the realm of No-Thought), yet he felt this too was not liberation. He then studied under Uất Đầu Lam Phất the method of being reborn in the heaven of Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; the prince practiced it and attained it, but he recognized that even this realm was not true liberation.

After these three attempts, the prince realized that none of the existing paths led to true liberation, and that he would have to practice on his own to find the correct Way. He went to the Ưu Lâu Tần La forest, south of the Tượng Đầu mountain, beside the Ni Liên river, where together with the five brethren of Kiều Trần Như he practiced austerities. For six years he mortified his body to such an extent that he ate only a single grain of rice or sesame each day. One day his body was so wasted that he fainted and lay as if dead. At that time a woman named Tu Xà Đề (Sujata) saw him lying beneath a tree and offered him milk. When he regained consciousness, he understood that austerity was not the path of liberation. He bathed clean in the Ni Liên river, then spread grass as a cushion beneath the Bồ Đề (Bodhi) tree, sat in meditation, and vowed: “If I do not attain the Way of liberation for all beings, I vow never to leave this Bodhi tree for the rest of my life.”

The Enlightenment

While he was settling his mind in practice, the demons (Mara), afraid that if he attained the Way he would awaken all beings, gathered to disturb him; but the prince, resolute in his practice, overcame all their disturbances. After forty-nine (49) days of practice beneath the Bodhi tree, on the night of December 8th, the prince attained supreme enlightenment and became the Buddha with the title Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni).

Teaching and Saving Beings

Buddha Shakyamuni went to the Lộc Uyển (Deer Park) garden and preached the Four Noble Truths (Suffering, its Cause, its Cessation, and the Path) to the five friends who had practiced austerities with him, the group of Kiều Trần Như, and they became disciples of the Buddha. From that moment on, the Three Jewels were complete: the Buddha, the Dharma, and the Sangha.

The Buddha preached and taught beings for more than forty-nine (49) years, guiding countless disciples of every class — rich and poor, noble and humble. While still on earth, he traveled and preached during the nine warm months in India, and during the three months of rain he stayed in the monastery to practice.

The Final Nirvana

Knowing that he was about to enter nirvana, on the night of the full moon of the second Indian month, he gathered his disciples at Câu Ly, in the Xa Nại forest, hung a hammock between two Song Thọ (Sala) trees, and gave his final teaching and counsel. He passed his robe and bowl to his disciple Ca Diếp (Kasyapa) to continue transmitting the Way, then bade farewell to everyone and entered nirvana. He lived to the age of eighty (80).

From his high station as a prince, Buddha Shakyamuni gave up everything to seek the path of liberation for all beings — a great example of will, compassion, and wisdom for later generations to follow.

Để lại bình luận

0/500 ký tự

Danh sách bình luận