Tứ Như Ý Túc
Trong bảy nhóm làm nên ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đây là nhóm hay bị bỏ qua nhất. Cái tên không giúp gì: nghe như ý túc là cả lớp nghĩ tới bay lên trời, mà anh chị Huynh Trưởng thì không muốn dạy chuyện bay, nên lật sang nhóm kế. Chánh tạng nói thẳng hơn nhiều về việc bốn điều này để làm gì.
Trích Chánh tạng — Tương Ưng Bộ 51.2
“Với những ai bốn như ý túc bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Với những ai bốn như ý túc được thực hiện, với những người ấy, được thực hiện là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.”
Tương Ưng Bộ 51.2 — đọc nguyên văn ngay trên trang nhà
Vậy chúng không phải một tài lẻ dành cho người có năng khiếu. Buông chúng là buông luôn con đường. Mà bốn điều ấy hoá ra bình thường đến mức ngượng — chúng đúng là bốn thứ ai cũng cần để làm xong bất cứ việc gì.
| Như ý túc | Pāli | Nói cho dễ |
|---|---|---|
| Dục định | chanda | Thật sự muốn cho việc ấy xong |
| Tinh tấn định | vīriya | Chịu bỏ sức ra làm |
| Tâm định | citta | Đặt cái tâm vào, không đưa phần thừa |
| Tư duy định | vīmaṁsā | Xem lại có ăn thua không, rồi sửa |
Cả bốn, trong Chánh tạng, đều đi kèm cùng một cái đuôi: “câu hữu với … định tinh cần hành.” Không phải chỉ muốn; mà cái muốn ấy được gom lại thành một điểm và được sức mà mang đi. Chính cái đuôi ấy phân biệt một như ý túc với một cơn hứng.
Lời bắt bẻ mà ai cũng sẽ nêu
Nhìn lại cái thứ nhất. Chanda — lòng muốn, ý muốn làm. Cả con đường được nói là đưa tới chỗ đoạn tận lòng dục, mà món đầu tiên trong danh sách chở mình tới đó lại chính là lòng dục. Một vị Bà-la-môn tên Unnābha nhìn ra chỗ ấy và nói thẳng, trước mặt Tôn giả Ānanda, tại Kosambī.
Trích Chánh tạng — Tương Ưng Bộ 51.15, tại Kosambī
“Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ānanda, thời một công việc liên tục, không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.”
Tương Ưng Bộ 51.15 — đọc nguyên văn ngay trên trang nhà
Đó là một lời bắt bẻ hay, nói khéo. Tôn giả Ānanda không cãi lại. Ngài hỏi ngược một câu, và câu hỏi ấy nói về chính buổi sáng của vị Bà-la-môn.
Tương Ưng Bộ 51.15 — lời Tôn giả Ānanda đáp Bà-la-môn Unnābha
Trích Chánh tạng — lời Tôn giả Ānanda đáp
“Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải trước có lòng dục nơi Ông, thúc đẩy Ông: ‘Ta sẽ đi đến khu vườn’. Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?” — “Thưa vâng, Tôn giả.”
“Cũng vậy này Bà-la-môn, lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ… Sự thể là vậy, thời một công việc có chấm dứt hay là một công việc không chấm dứt?” — “Thực vậy, thưa Tôn giả Ānanda, một công việc có chấm dứt.”
Tương Ưng Bộ 51.15 — đọc nguyên văn ngay trên trang nhà
Câu trả lời không phải khôn khéo. Nó chỉ là đúng. Một lòng muốn nhắm vào một chỗ đến thì hết khi tới nơi; nó không cần bị đánh dẹp, bởi vì chính việc tới nơi đặt nó xuống. Vị Bà-la-môn đang hình dung một đống lửa phải nuôi mãi mãi. Tôn giả Ānanda chỉ cho ông thấy một quãng đường đi bộ.
Nói cho cân: hai chữ tiếng Việt trông giống nhau
Một phần lý do khiến lời bắt bẻ nghe mạnh đến thế trong tiếng Việt là vì một chữ dục đang gánh hai chữ Pāli khác nhau. Chanda là lòng muốn làm một việc — nó nhắm vào đâu cũng được, và trong danh sách này nó nhắm vào chỗ hết khổ. Kāmacchanda là lòng tham muốn ngũ dục, và nó là cái đầu tiên trong năm triền cái.
Cùng một tiếng Việt, mà vai trò ngược nhau. Một cái nằm trong danh sách cái chở mình đi; cái kia nằm trong danh sách cái chặn mình lại. Lời bắt bẻ của Unnābha chỉ đứng được nếu hai cái là một chữ, mà trong tiếng Pāli thì không phải.
Còn về cái tên: chữ iddhi quả thật có nghĩa là năng lực, thành tựu, và chương chứa mấy bài kinh này cũng có nói tới các thần thông. Nhưng Tương Ưng 51.2 đã chốt bốn điều ấy để làm gì, và không phải để bay — mà là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
Bốn cách làm hỏng
Còn một bài kinh nữa trong cùng chương thêm vào cái phần khiến chuyện này dùng được. Mỗi trong bốn điều, bài kinh nói, được tu tập với ý nghĩ: “Như vậy, dục của ta sẽ không có quá thụ động, sẽ không có quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài.” Hai trục, bốn cái hố.
Tương Ưng Bộ 51.20
Hai trong bốn cái hố thì ai cũng thấy, hai cái kia thì không. Ai cũng biết thế nào là lơi và thế nào là gồng. Ít người để ý cái trục còn lại: một sự tu tập có thể đúng liều sức mà vẫn hỏng — hoặc vì quay vào trong tới mức ngộp, hoặc vì tãi ra tới mức đâu cũng có mà chẳng đâu có. Bài kinh đòi một cái tâm rộng mở, không gò bó, chói sáng — và đòi lúc cuối vẫn vững như lúc đầu.
Với một em đoàn sinh
Nhóm này dễ trao cho một em nhỏ nhất trong bảy nhóm, bởi vì nó thật ra chẳng nói riêng chuyện thiền định. Nó nói chuyện làm sao một việc được làm xong. Hỏi một em đã tập bơi được xem em dùng cái nào trong bốn, thì em sẽ tìm ra đủ cả bốn: em muốn bơi, em chịu tập, em để ý vào, và em thấy chỗ nào chưa được thì sửa.
Còn câu hỏi của Unnābha cũng đáng trao lại, bởi vì một em có suy nghĩ sớm muộn gì cũng hỏi, thường là dưới dạng này: “Nếu con phải bỏ hết ham muốn, thì cái ham muốn được ngoan cũng là một thứ ham muốn chứ gì?” Câu trả lời là một quãng đường tới khu vườn. Đúng vậy — và thứ ham muốn ấy hết bằng cách tới nơi, không phải bằng cách đánh nhau với nó.
Đọc thêm, ngay trên trang nhà
- Tương Ưng Bộ 51.15 — Bà-la-môn Unnābha và quãng đường tới khu vườn
- Tương Ưng Bộ 51.2 — bốn điều ấy thối thất thì Thánh đạo thối thất
- Tương Ưng Bộ 51.20 — phân tích: không lơi, không gồng, không co rút, không phân tán
- Tương Ưng Bộ 51.13 — từng như ý túc một, đủ đầu đuôi
- Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo — nhóm này nằm ở đâu
- Ngũ Căn và Ngũ Lực — một dòng sông, hai cách đếm
- Thất Giác Chi — lúc nào thổi lửa, lúc nào rắc bụi
- Ba Pháp Ấn — chỗ câu thứ ba đổi một chữ
- Tương Ưng Chánh Cần — bốn Chánh cần, nhóm ngay bên cạnh
- Mười Kiết Sử — chỗ đến mà lòng muốn ấy nhắm vào
- Bản Đồ Tam Tạng — trọn bộ thư viện trên một trang