G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp Bậc Kiên · Bài Số 6 Tam Bảo · Quy Y
Bậc Kiên · Bài Số 6

Quy Y Phật, Pháp và Tăng

Tỳ-kheo Thanissaro biên soạn — bài số 6 bậc Kiên

Loài người vì sợ hãi mà tìm về nương tựa nơi bao chốn — núi non, rừng rậm, vườn cây, cội cây và đền miếu. Đó không phải chỗ nương tựa an ổn, không phải chỗ nương tựa tối thượng; nương tựa nơi ấy chẳng thoát được mọi khổ đau, phiền lụy.

Nhưng khi đã về nương tựa Phật, Pháp và Tăng, dùng chánh trí thấy rõ Bốn Chân Lý cao quý — khổ, nguyên nhân của khổ, sự vượt thoát khổ, và Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến sự lắng dịu của khổ — thì đó mới là chỗ nương tựa an ổn, chỗ nương tựa tối thượng; nương tựa nơi ấy liền thoát khỏi mọi khổ đau, phiền lụy. — Kinh Pháp Cú (Dhammapada), 188-192

Dẫn NhậpVì sao sự cam kết ấy được gọi là “quy y”

Hành động quy y đánh dấu thời điểm một người tự nguyện lấy Pháp, tức giáo lý của đức Phật, làm kim chỉ nam chính cho đời mình. Để hiểu vì sao sự cam kết này được gọi là “nương tựa” (quy y), thật hữu ích khi nhìn lại lịch sử của tập tục ấy.

Ở Ấn Độ thời tiền Phật giáo, quy y có nghĩa là tuyên bố lòng trung thành với một vị thí chủ che chở — một người quyền thế hay một vị thần — quy phục theo mệnh lệnh của vị ấy với hy vọng được che chở khỏi hiểm nguy. Trong những năm đầu hoằng pháp của đức Phật, các đệ tử mới của Ngài đã tiếp nhận tập tục này để bày tỏ lòng trung thành với Phật, Pháp và Tăng; nhưng trong bối cảnh Phật giáo, tập tục ấy mang một ý nghĩa mới.

Đạo Phật không phải là một tôn giáo hữu thần — đức Phật không phải là một vị thần — nên người quy y theo nghĩa Phật giáo không cầu xin đức Phật đích thân can thiệp để ban sự che chở. Tuy vậy, một trong những lời dạy cốt lõi của đức Phật là đời người đầy dẫy hiểm nguy — từ tham, sân và si — nên khái niệm nương tựa là trung tâm của con đường tu tập, bởi việc tu tập nhằm đạt đến sự giải thoát khỏi những hiểm nguy ấy. Vì tâm vừa là cội nguồn của hiểm nguy vừa là cội nguồn của giải thoát, nên cần có hai cấp độ nương tựa: nương tựa bên ngoài, cung cấp khuôn mẫu và chỉ dẫn để ta nhận ra phẩm chất nào trong tâm dẫn đến hiểm nguy và phẩm chất nào dẫn đến giải thoát; và nương tựa bên trong, tức những phẩm chất đưa đến giải thoát mà ta phát triển ngay trong tâm mình theo gương những khuôn mẫu bên ngoài. Chính cấp độ bên trong mới là nơi tìm thấy sự nương tựa chân thật.

Dù truyền thống quy y là một tập tục cổ xưa, nó vẫn còn thiết thực cho việc tu tập của chúng ta ngày nay, bởi chúng ta cũng đối diện với chính những hiểm nguy nội tâm mà con người thời đức Phật từng đối diện. Chúng ta vẫn cần sự che chở như họ. Khi một Phật tử quy y, về căn bản đó là hành động nương tựa nơi giáo lý về nghiệp: đó là hành động quy phục ở chỗ ta nguyện sống thuận theo nguyên lý rằng những hành động xuất phát từ ý định thiện khéo sẽ đưa đến hạnh phúc, còn những hành động xuất phát từ ý định bất thiện sẽ đưa đến khổ đau; đó là hành động cầu sự che chở ở chỗ, nhờ thực hành theo giáo pháp, ta mong tránh được những bất hạnh do nghiệp xấu gây ra. Quy y theo cách này rốt cuộc có nghĩa là nương tựa nơi phẩm chất của chính ý định mình, vì đó chính là nơi cốt tủy của nghiệp nằm.

Các chỗ nương tựa trong đạo Phật — cả ở cấp độ bên trong lẫn bên ngoài — là Phật, Pháp và Tăng, còn gọi là Tam Bảo (Ba Ngôi Báu). Chúng được gọi là báu vừa vì quý giá, vừa vì thời xưa người ta tin rằng ngọc báu có năng lực che chở. Về phương diện này, Tam Bảo vượt hơn mọi thứ ngọc báu khác, bởi năng lực che chở của Tam Bảo có thể đem ra thử nghiệm và có thể đưa ta đi xa hơn bất kỳ viên ngọc vật chất nào, đến tận sự tự do tuyệt đối khỏi những bất trắc của cõi già, bệnh và chết.

Về mặt bên ngoài, “Phật” chỉ Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhattha Gotama), vị hoàng tử Ấn Độ đã từ bỏ ngôi vị vương giả mà vào rừng, hành thiền cho đến khi rốt cuộc đạt Giác Ngộ. Quy y Phật không có nghĩa là nương tựa nơi Ngài như một con người, mà là nương tựa nơi sự thật Giác Ngộ của Ngài: đặt niềm tin rằng Ngài quả thật đã tỉnh giác trước chân lý, rằng Ngài đã làm được như vậy nhờ phát triển những phẩm chất mà chúng ta cũng có thể phát triển, và rằng những chân lý mà Ngài tỉnh giác cung cấp cho ta cái nhìn tốt nhất để dẫn dắt đời sống của mình.

Về mặt bên ngoài, “Pháp” chỉ con đường tu tập mà đức Phật đã dạy cho các đệ tử này. Pháp lại được chia làm ba cấp độ: lời dạy của Ngài, việc đem những lời dạy ấy ra thực hành, và sự chứng đạt Giác Ngộ như là kết quả của việc thực hành đó. Cách chia chữ “Pháp” làm ba này giống như một tấm bản đồ chỉ cách biến những chỗ nương tựa bên ngoài thành bên trong: học hỏi giáo pháp, dùng chúng để phát triển những phẩm chất mà chính đức Phật đã dùng để đạt Giác Ngộ, rồi thực chứng chính sự giải thoát khỏi hiểm nguy mà Ngài đã tìm thấy nơi phẩm tính Bất Tử mà ta có thể chạm đến ở bên trong.

Về mặt bên ngoài, chữ “Tăng” (Sangha) có hai nghĩa: theo quy ước và theo lý tưởng. Theo nghĩa lý tưởng, Tăng gồm tất cả những người, tại gia hay xuất gia, đã thực hành Pháp đến mức ít nhất thoáng thấy được Bất Tử. Theo nghĩa quy ước, Tăng chỉ cộng đồng chư tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đã thọ giới. Hai nghĩa này giao nhau nhưng không nhất thiết đồng nhất. Một số thành viên của Tăng lý tưởng thì không xuất gia; một số tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni thì chưa chạm đến Bất Tử. Tất cả những ai quy y Phật, Pháp, Tăng đều trở thành thành viên của bốn chúng đệ tử (parisa) của đức Phật: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Dù có một quan niệm phổ biến rằng mọi Phật tử đều là thành viên của Tăng, điều đó không đúng. Chỉ những người đã thọ giới mới là thành viên của Tăng theo quy ước; chỉ những người đã thoáng thấy Bất Tử mới là thành viên của Tăng lý tưởng. Tuy nhiên, những đệ tử không thuộc Tăng theo cả hai nghĩa của chữ ấy vẫn được kể là Phật tử chân chính, bởi họ là thành viên trong bốn chúng (parisa) của đức Phật.

Khi quy y Tăng bên ngoài, ta nương tựa cả hai nghĩa của Tăng, nhưng hai nghĩa ấy đem lại những cấp độ nương tựa khác nhau. Tăng theo quy ước đã giúp gìn giữ giáo pháp còn sống động suốt hơn 2.500 năm. Không có các Ngài, chúng ta hẳn không bao giờ biết được đức Phật đã dạy gì. Tuy nhiên, không phải mọi thành viên của Tăng quy ước đều là khuôn mẫu đáng tin về hành vi. Vì thế, khi tìm sự hướng dẫn cho cách sống của mình, ta phải nhìn vào những tấm gương còn sống và những tấm gương được ghi chép lại do Tăng lý tưởng cống hiến. Không có tấm gương của các Ngài, ta sẽ không biết (1) rằng Giác Ngộ là điều ai cũng có thể đạt, chứ không riêng đức Phật; và (2) Giác Ngộ biểu hiện ra sao trong đời sống thực.

Về cấp độ bên trong, Phật, Pháp và Tăng là những phẩm chất thiện khéo mà ta phát triển ngay trong tâm mình theo gương những khuôn mẫu bên ngoài. Chẳng hạn, đức Phật là bậc trí tuệ, thanh tịnh và từ bi. Khi ta phát triển trí tuệ, thanh tịnh và từ bi trong tâm mình, chúng làm thành chỗ nương tựa của ta ở cấp độ bên trong. Đức Phật đã nếm được Giác Ngộ nhờ phát triển tín, tấn, niệm, định và tuệ. Khi ta phát triển chính những phẩm chất ấy đến mức cũng đạt Giác Ngộ, thì Giác Ngộ đó là chỗ nương tựa tối hậu của ta. Đây là điểm mà ba khía cạnh của Tam Bảo trở thành một: vượt khỏi tầm với của tham, sân và si, và do đó hoàn toàn an ổn.

II. Nghi Thức Quy YNghi thức tụng niệm quy y Tam Bảo

(VỊ CHỦ LỄ) Giờ đây chúng ta hãy tụng đoạn mở đầu để đảnh lễ đấng Giác Ngộ, đức Thế Tôn.

(TẤT CẢ) Kính lễ đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (3 lần).

Con về nương tựa Phật.

Con về nương tựa Pháp.

Con về nương tựa Tăng.

Lần thứ hai, con về nương tựa Phật.

Lần thứ hai, con về nương tựa Pháp.

Lần thứ hai, con về nương tựa Tăng.

Lần thứ ba, con về nương tựa Phật.

Lần thứ ba, con về nương tựa Pháp.

Lần thứ ba, con về nương tựa Tăng.

Con không có chỗ nương tựa nào khác, đức Phật là chỗ nương tựa tối thượng của con. Nhờ nói lên lời chân thật này, nguyện cho họ [con] luôn được an lành.

Con không có chỗ nương tựa nào khác, Pháp là chỗ nương tựa tối thượng của con. Nhờ nói lên lời chân thật này, nguyện cho họ [con] luôn được an lành.

Con không có chỗ nương tựa nào khác, Tăng là chỗ nương tựa tối thượng của con. Nhờ nói lên lời chân thật này, nguyện cho họ [con] luôn được an lành.

(Đức Phật), đấng che chở của chúng con, với lòng đại bi, vì sự an lành của muôn loài, đã viên mãn tất cả các pháp ba-la-mật, chứng đạt sự tự giác ngộ tối thượng. Nhờ nói lên lời chân thật này, nguyện cho mọi tai ương đều tiêu tan.

(Đức Phật), đấng che chở của chúng con, với lòng đại bi, vì lợi ích của muôn loài, đã viên mãn tất cả các pháp ba-la-mật, chứng đạt sự tự giác ngộ tối thượng. Nhờ năng lực của lời chân thật này, nguyện cho mọi tai ương đều tiêu tan.

(Đức Phật), đấng che chở của chúng con, với lòng đại bi, vì hạnh phúc của muôn loài, đã viên mãn tất cả các pháp ba-la-mật, chứng đạt sự tự giác ngộ tối thượng. Nhờ năng lực của lời chân thật này, nguyện cho mọi tai ương đều tiêu tan.

Nhiều người vì bị hiểm nguy đe dọa mà tìm về nương tựa nơi núi non, rừng rậm, vườn cây, cội cây và đền miếu. Đó không phải chỗ nương tựa an ổn, không phải chỗ nương tựa tối thượng, không phải chỗ nương tựa mà nhờ về nương nơi ấy người ta thoát được mọi khổ đau, phiền lụy.

Nhưng người nào đã về nương tựa Phật, Pháp và Tăng, dùng chánh trí thấy rõ Bốn Chân Lý cao quý: khổ, nguyên nhân của khổ, sự vượt thoát khổ, và Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến sự lắng dịu của khổ. Đó mới là chỗ nương tựa an ổn, đó là chỗ nương tựa tối thượng, đó là chỗ nương tựa mà nhờ về nương nơi ấy, người ta thoát khỏi mọi khổ đau.

Kết LuậnNiệm ân đức Phật, Pháp và Tăng

‘Quả thật, đức Thế Tôn [đức Phật] là bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

‘Pháp được đức Thế Tôn khéo giảng, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm.’

‘Chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã khéo thực hành… đã thực hành chánh trực… đã thực hành đúng phương pháp… đã thực hành thuần thục — nói cách khác là bốn hạng thánh đệ tử khi tính theo cặp, tám hạng khi tính theo từng bậc — đó là Tăng-già, chúng đệ tử của đức Thế Tôn: xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được hiến tặng, xứng đáng được kính lễ, là ruộng phước vô thượng của thế gian.’

Xuất Xứ

Refuge to the Buddha, Dhamma, & Sangha — Tỳ-kheo Thanissaro biên soạn, bài số 6 bậc Kiên. Tài liệu tu học Bậc Kiên — Gia Đình Phật Tử Huyền Quang.

Cùng Tu Học

Tu học Phật pháp cùng Huyền Quang

Quy Y Phật, Pháp và Tăng là một phần trong chương trình tu học Phật pháp Bậc Kiên dành cho Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Huyền Quang. Kính mời quý anh chị cùng tham gia sinh hoạt hằng tuần để học và thực hành Phật pháp dưới sự hướng dẫn của các anh chị Huynh Trưởng.

Liên hệ & Tham gia sinh hoạt →