Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN55.1

Saṁyutta Nikāya 55.1 1. Veḷudvāravagga Cakkavattirājasutta

Linked Discourses 55.1 1. At Bamboo Gate A Wheel-Turning Monarch

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 55: Tương Ưng Dự Lưu
  • I: Phẩm Veludvàra

55.1. Vua

Vi-n 1-2. Sāvatthi. Ở đấy … nói như sau:

Vi-n 3 —Dầu cho, này các Tỷ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

Vi-n 4 Nhưng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?

Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Vi-n 6 Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.

Vi-n 7 Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.

Vi-n 8 Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

Vi-n 9 Vị ấy thành tựu bốn pháp này.

Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Sāvatthinidānaṁ.

At Sāvatthī.

1.2

Tatra kho bhagavā …pe… etadavoca:

There the Buddha … said:

1.3

“kiñcāpi, bhikkhave, rājā cakkavattī catunnaṁ dīpānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāretvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ, so tattha nandane vane accharāsaṅghaparivuto dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, so catūhi dhammehi asamannāgato, atha kho so aparimuttova nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā aparimutto apāyaduggativinipātā.

“Mendicants, suppose a wheel-turning monarch were to rule as sovereign lord over these four continents. And when his body breaks up, after death, he’s reborn in a good place, a heavenly realm, in the company of the gods of the thirty-three. There he amuses himself in the Garden of Delight, escorted by a band of nymphs, and supplied and provided with the five kinds of heavenly sensual stimulation. Still, as he’s lacking four things, he’s not exempt from hell, the animal realm, or the ghost realm. He’s not exempt from places of loss, bad places, the underworld.

1.4

Kiñcāpi, bhikkhave, ariyasāvako piṇḍiyālopena yāpeti, nantakāni ca dhāreti, so catūhi dhammehi samannāgato, atha kho so parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.

Now suppose a noble disciple wears rags and feeds on scraps of almsfood. Still, as they have four things, they’re exempt from hell, the animal realm, or the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.

2.1

Katamehi catūhi?

What four?

2.2

Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti:

It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha:

2.3

‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.

‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’

2.4

Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti:

They have experiential confidence in the teaching:

2.5

‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.

‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’

2.6

Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti:

They have experiential confidence in the Saṅgha:

2.7

‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ—cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.

‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’

2.8

Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi.

Furthermore, a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.

2.9

Imehi catūhi dhammehi samannāgato hoti.

These are the four qualities that they possess.

2.10

Yo ca, bhikkhave, catunnaṁ dīpānaṁ paṭilābho, yo catunnaṁ dhammānaṁ paṭilābho catunnaṁ dīpānaṁ paṭilābho catunnaṁ dhammānaṁ paṭilābhassa kalaṁ nāgghati soḷasin”ti.

And, mendicants, gaining these four continents is not worth a sixteenth part of gaining these four things.”

2.11

Paṭhamaṁ.