Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN40.9

Saṁyutta Nikāya 40.9 1. Moggallānavagga Animittapañhāsutta

Linked Discourses 40.9 1. By Moggallāna A Question About the Signless

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 40: Tương Ưng Moggallāna

40.9. Vô Tướng

Vi-n 1-2...

Vi-n 3 : “Vô tướng tâm định, Vô tướng tâm định” (animitto cete samādhi), như vậy được nói đến. Thế nào là Vô tướng tâm định?

Vi-n 4 Và này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định”. Ðây gọi là Vô tướng tâm định.

Vi-n 5 Rồi này chư Hiền, tôi không tác ý tất cả tướng, chứng và an trú Vô tướng tâm định. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, (tôi đạt được) thức tùy thuận tướng (nimittànusarivinnànam).

Vi-n 6 Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggallāna, này Moggallāna, chớ có phóng dật Vô tướng tâm định! Này Moggallāna, hãy đặt tâm vào Vô tướng tâm định! Hãy nhứt tâm vào Vô tướng tâm định! Hãy định tâm vào Vô tướng tâm định!”

Vi-n 7 Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, tôi không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định.

Vi-n 8 Này chư Hiền, nếu ai có nói một cách chơn chánh: “Vị đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng và đạt thắng trí”. Người ấy sẽ nói về tôi như sau: “Moggallāna là người đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng và đạt thắng trí”.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

“‘Animitto cetosamādhi, animitto cetosamādhī’ti vuccati.

“They speak of this thing called the ‘signless immersion of the heart’.

1.2

Katamo nu kho animitto cetosamādhīti?

What is the signless immersion of the heart?

1.3

Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:

It occurred to me:

1.4

‘idha bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.

‘It’s when a mendicant, not focusing on any signs, enters and remains in the signless immersion of the heart.

1.5

Ayaṁ vuccati animitto cetosamādhī’ti.

This is called the signless immersion of the heart.’

1.6

So khvāhaṁ, āvuso, sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharāmi.

And so … I was entering and remaining in the signless immersion of the heart.

1.7

Tassa mayhaṁ, āvuso, iminā vihārena viharato nimittānusāri viññāṇaṁ hoti.

While I was in that meditation, my consciousness followed after signs.

2.1

Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iddhiyā upasaṅkamitvā etadavoca:

Then the Buddha came up to me with his psychic power and said,

2.2

‘moggallāna, moggallāna.

‘Moggallāna, Moggallāna!

2.3

Mā, brāhmaṇa, animittaṁ cetosamādhiṁ pamādo, animitte cetosamādhismiṁ cittaṁ saṇṭhapehi, animitte cetosamādhismiṁ cittaṁ ekodiṁ karohi, animitte cetosamādhismiṁ cittaṁ samādahā’ti.

Don’t neglect the signless immersion of the heart, brahmin! Settle your mind in the signless immersion of the heart; unify your mind and immerse it in the signless immersion of the heart.’

2.4

So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja vihāsiṁ.

And so, after some time … I entered and remained in the signless immersion of the heart.

2.5

Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya:

So if anyone should be rightly called

2.6

‘satthārānuggahito sāvako mahābhiññataṁ patto’ti, mamaṁ taṁ sammā vadamāno vadeyya:

a disciple who attained to great direct knowledge with help from the Teacher, it’s me.”

2.7

‘satthārānuggahito sāvako mahābhiññataṁ patto’”ti.

2.8

Navamaṁ.