Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN4.20

Saṁyutta Nikāya 4.20 2. Dutiyavagga Rajjasutta

Linked Discourses 4.20 2. Rule Ruling

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 4: Tương Ưng Ác Ma
  • II: Phẩm Thứ Hai

4.20. Thống Trị

Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ trong rừng.

Vi-n 2 Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp?”.

Vi-n 3 Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp.

Vi-n 4 —Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại…, … một cách đúng pháp”?

Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng.

Vi-n 6 (Thế Tôn):

Dầu cho cả ngọn núi,
Trở thành toàn vàng ròng,
Cho đến hóa gấp đôi,
Cũng không thỏa mãn được,
Tham vọng của một người.
Biết vậy để hành trì,
Ai thấy rõ đau khổ,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng ái dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.

Vi-n 7 Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati himavantapadese araññakuṭikāyaṁ.

At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans, in a wilderness hut on the slopes of the Himalayas.

1.2

Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:

Then as he was in private retreat this thought came to his mind,

1.3

“sakkā nu kho rajjaṁ kāretuṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā”ti?

“I wonder if it’s possible to rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow?”

2.1

Atha kho māro pāpimā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:

And then Māra the Wicked, knowing the Buddha’s train of thought, went up to him and said,

2.2

“kāretu, bhante, bhagavā rajjaṁ, kāretu, sugato, rajjaṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā”ti.

“Rule, Blessed One! Rule, Holy One! Rule legitimately, without killing or having someone kill for you; without conquering or having someone conquer for you; without sorrowing or causing sorrow!”

2.3

“Kiṁ pana me tvaṁ, pāpima, passasi yaṁ maṁ tvaṁ evaṁ vadesi:

“But what do you see, Wicked One, that you say this to me?”

2.4

‘kāretu, bhante, bhagavā rajjaṁ, kāretu sugato, rajjaṁ ahanaṁ aghātayaṁ ajinaṁ ajāpayaṁ asocaṁ asocāpayaṁ dhammenā’”ti?

2.5

“Bhagavatā kho, bhante, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā.

“The Blessed One, sir, has developed and cultivated the four bases for psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them.

2.6

Ākaṅkhamāno ca, bhante, bhagavā himavantaṁ pabbatarājaṁ suvaṇṇaṁ tveva adhimucceyya suvaṇṇañca panassā”ti.

If he wished, the Blessed One need only determine that the Himalaya, king of mountains, was gold, and it would turn into gold.”

3.1

“Pabbatassa suvaṇṇassa,

“Take a golden mountain,

3.2

jātarūpassa kevalo;

entirely of native gold, and double it—

3.3

Dvittāva nālamekassa,

it’s still not enough for one!

3.4

iti vidvā samañcare.

Knowing this, live a moral life.

4.1

Yo dukkhamaddakkhi yatonidānaṁ,

When a personage has seen where suffering comes from

4.2

Kāmesu so jantu kathaṁ nameyya;

how could they incline toward sensual pleasures?

4.3

Upadhiṁ viditvā saṅgoti loke,

Realizing that attachment is a chain in the world,

4.4

Tasseva jantu vinayāya sikkhe”ti.

a personage would train to remove it.”

5.1

Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.

5.2

Dutiyo vaggo.

6.0

Tassuddānaṁ

6.1

Pāsāṇo sīho sakalikaṁ,

6.2

Patirūpañca mānasaṁ;

6.3

Pattaṁ āyatanaṁ piṇḍaṁ,

6.4

Kassakaṁ rajjena te dasāti.