Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN24.18

Saṁyutta Nikāya 24.18 1. Sotāpattivagga Nevahotinanahotitathāgatosutta

Linked Discourses 24.18 1. Stream-Entry A Realized One Neither Still Exists Nor No Longer Exists

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 24: Tương Ưng Kiến
  • I: Phẩm Dự Lưu

24.18. Như Lai Không Tồn Tại Và Không Không Tồn Tại

Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi

—Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?

Vi-n 3 —Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …

Vi-n 4-8. —Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc, (tà) kiến này khởi lên: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” … … thọ … tưởng … các hành … Do có thức, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức, khởi lên (tà) kiến này: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Vi-n 9 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

—Vô thường, bạch Thế Tôn.

—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

—Là khổ, bạch Thế Tôn.

—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

Vi-n 10-13. … Thọ … Tưởng … Các hành … Thức …

Vi-n 14 —Cái được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết đến, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư; cái ấy là thường hay vô thường?

—Vô thường, bạch Thế Tôn.

—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

—Là khổ, bạch Thế Tôn.

—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?

—Thưa không, bạch Thế Tôn.

Vi-n 15 —Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đối với các xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ tập khởi, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ, vị Thánh đệ tử như vậy được gọi là đã chứng được bậc Dự lưu, không bị thối đọa, chắc quyết hướng đến giác ngộ.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Sāvatthinidānaṁ.

At Sāvatthī.

1.2

“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise:

1.3

‘neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?

‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death’?”

1.4

“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

2.1

“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:

“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises:

2.2

‘neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti …pe….

‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death’ …

3.1

“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,

What do you think, mendicants?

3.2

rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?

Is form permanent or impermanent?”

3.3

“Aniccaṁ, bhante” …pe…

“Impermanent, sir.” …

3.4

vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise:

3.5

‘neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?

‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death’?”

3.6

“No hetaṁ, bhante”.

“No, sir.”

3.7

“Yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?

“That which is seen, heard, thought, known, attained, sought, and explored by the mind: is that permanent or impermanent?”

3.8

“Aniccaṁ, bhante”.

“Impermanent, sir.”

3.9

“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

3.10

“Dukkhaṁ, bhante”.

“Suffering, sir.”

3.11

“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise:

3.12

‘neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?

‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death’?”

3.13

“No hetaṁ, bhante”.

“No, sir.”

4.1

“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhasamudayepissa kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhanirodhepissa kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā hoti—

“When a noble disciple has given up doubt regarding these six grounds, and has given up doubt in suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation,

4.2

ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano”ti.

they’re called a noble disciple who is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”

4.3

Aṭṭhārasamaṁ.

4.4

Sotāpattivaggo.

4.5

Aṭṭhārasaveyyākaraṇaṁ niṭṭhitaṁ.

5.0

Tassuddānaṁ

5.1

Vātaṁ etaṁ mama,

5.2

so attā no ca me siyā;

5.3

Natthi karoto hetu ca,

5.4

mahādiṭṭhena aṭṭhamaṁ.

6.1

Sassato loko ca,

6.2

Asassato ca antavā ca;

6.3

Anantavā ca taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti,

6.4

Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti ca.

7.1

Hoti tathāgato paraṁ maraṇāti,

7.2

Na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti;

7.3

Neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti.