Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN22.1

Saṁyutta Nikāya 22.1 1. Nakulapituvagga Nakulapitusutta

Linked Discourses 22.1 1. Nakula’s Father Nakula’s Father

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 22: Tương Ưng Uẩn
  • I: Phẩm Nakulapitā

22.1. Nakulapitā

Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.

Vi-n 2 Rồi gia chủ Nakulapitā đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapitā bạch Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Vi-n 4 —Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: “Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh”. Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.

Vi-n 5 Rồi gia chủ Nakulapitā sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên.

Vi-n 6 Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Nakulapitā đang ngồi một bên:

—Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?

—Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại!

—Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?

Vi-n 7 —Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:

“—Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài!”

Ðược nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:

“—Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: ‘Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”

Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.

Vi-n 8 —Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bịnh và tâm cũng bị bịnh? Cho đến như thế nào là thân bị bịnh, nhưng tâm không bị bịnh không?”

Vi-n 9 —Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sāriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

Vi-n 10 —Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.

—Thưa vâng, Tôn giả.

Gia chủ Nakulapitā vâng đáp Tôn giả Sāriputta.

Vi-n 11 Tôn giả Sāriputta nói như sau:

—Thế nào, này Gia chủ, là thân bịnh và tâm bịnh?

Vi-n 12 Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta.” khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 13 Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 14 Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 15 Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 16 Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 17 Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh và tâm có bịnh.

Vi-n 18 Thế nào, này Gia chủ, là thân có bịnh nhưng tâm không có bịnh?

Vi-n 19 Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta” khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 20 Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 21 Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 22 Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 23 Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

Vi-n 24 Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh, nhưng tâm không có bịnh.

Vi-n 25 Tôn giả Sāriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapitā hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta thuyết.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Evaṁ me sutaṁ—

So I have heard.

1.2

ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.

At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile’s Bellow, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood.

1.3

Atha kho nakulapitā gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṁ etadavoca:

Then the householder Nakula’s father went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

2.1

“Ahamasmi, bhante, jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko.

“Sir, I’m an old man, elderly and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life. My body is ailing and I’m constantly unwell.

2.2

Aniccadassāvī kho panāhaṁ, bhante, bhagavato manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṁ.

I hardly ever get to see the esteemed mendicants.

2.3

Ovadatu maṁ, bhante, bhagavā;

May the Buddha please advise me

2.4

anusāsatu maṁ, bhante, bhagavā;

and instruct me.

2.5

yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.

It will be for my lasting welfare and happiness.”

3.1

“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati.

“That’s so true, householder! That’s so true, householder!

3.2

Āturo hāyaṁ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho.

For this body is ailing, swaddled in its shell.

3.3

Yo hi, gahapati, imaṁ kāyaṁ pariharanto muhuttampi ārogyaṁ paṭijāneyya, kimaññatra bālyā?

If anyone dragging around this body claimed to be healthy even for an hour, what is that but foolishness?

3.4

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ:

So you should train like this:

3.5

‘āturakāyassa me sato cittaṁ anāturaṁ bhavissatī’ti.

‘Though my body is ailing, my mind will be healthy.’

3.6

Evañhi te, gahapati, sikkhitabban”ti.

That’s how you should train.”

4.1

Atha kho nakulapitā gahapati bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho nakulapitaraṁ gahapatiṁ āyasmā sāriputto etadavoca:

And then the householder Nakula’s father approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went up to Venerable Sāriputta, bowed, and sat down to one side. Sāriputta said to him:

4.2

“vippasannāni kho te, gahapati, indriyāni;

“Householder, your faculties are so very clear,

4.3

parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto.

and your complexion is pure and bright.

4.4

Alattha no ajja bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti?

Did you get to hear a Dhamma talk in the Buddha’s presence today?”

5.1

“Kathañhi no siyā, bhante.

“What else, sir, could it be?

5.2

Idānāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti.

Just now the Buddha anointed me with the deathless ambrosia of a Dhamma talk.”

5.3

“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, gahapati, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti?

“But with what kind of ambrosial Dhamma talk did the Buddha anoint you?”

5.4

“Idhāhaṁ, bhante, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ etadavocaṁ:

So Nakula’s father told Sāriputta all that had happened, and said,

5.5

‘ahamasmi, bhante, jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āturakāyo abhikkhaṇātaṅko.

5.6

Aniccadassāvī kho panāhaṁ, bhante, bhagavato manobhāvanīyānañca bhikkhūnaṁ.

5.7

Ovadatu maṁ, bhante, bhagavā;

5.8

anusāsatu maṁ, bhante, bhagavā;

5.9

yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.

6.1

Evaṁ vutte, maṁ, bhante, bhagavā etadavoca:

6.2

‘evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati.

6.3

Āturo hāyaṁ, gahapati, kāyo aṇḍabhūto pariyonaddho.

6.4

Yo hi, gahapati, imaṁ kāyaṁ pariharanto muhuttampi ārogyaṁ paṭijāneyya, kimaññatra bālyā?

6.5

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ—

6.6

āturakāyassa me sato cittaṁ anāturaṁ bhavissatīti.

6.7

Evañhi te, gahapati, sikkhitabban’ti.

6.8

Evaṁ khvāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammiyā kathāya amatena abhisitto”ti.

“That’s the ambrosial Dhamma talk with which I was anointed by the Buddha.”

7.1

“Na hi pana taṁ, gahapati, paṭibhāsi bhagavantaṁ uttariṁ paṭipucchituṁ:

“But didn’t you feel the need to ask the Buddha the further question:

7.2

‘kittāvatā nu kho, bhante, āturakāyo ceva hoti āturacitto ca, kittāvatā ca pana āturakāyo hi kho hoti no ca āturacitto’”ti?

‘Sir, how do you define someone ailing in body and ailing in mind, and someone ailing in body and healthy in mind’?”

7.3

“Dūratopi kho mayaṁ, bhante, āgaccheyyāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ.

“Sir, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta.

7.4

Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho”ti.

May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this.”

8.1

“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.

“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”

8.2

“Evaṁ, bhante”ti kho nakulapitā gahapati āyasmato sāriputtassa paccassosi.

“Yes, sir,” replied Nakula’s father.

8.3

Āyasmā sāriputto etadavoca:

Sāriputta said this:

9.1

“Kathañca, gahapati, āturakāyo ceva hoti, āturacitto ca?

“And how is one ailing in body and ailing in mind?

9.2

Idha, gahapati, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto

It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the qualities of a noble one. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the qualities of a true person.

9.3

rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.

They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.

9.4

‘Ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’

9.5

Tassa ‘ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti.

But that form of theirs decays and perishes,

9.6

Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

10.1

Vedanaṁ attato samanupassati, vedanāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā vedanaṁ, vedanāya vā attānaṁ.

They regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling.

10.2

‘Ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’

10.3

Tassa ‘ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti.

But that feeling of theirs decays and perishes,

10.4

Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

11.1

Saññaṁ attato samanupassati, saññāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā saññaṁ, saññāya vā attānaṁ.

They regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception.

11.2

‘Ahaṁ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’

11.3

Tassa ‘ahaṁ saññā, mama saññā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā saññā vipariṇamati aññathā hoti.

But that perception of theirs decays and perishes,

11.4

Tassa saññāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

12.1

Saṅkhāre attato samanupassati, saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā attānaṁ.

They regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices.

12.2

‘Ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’

12.3

Tassa ‘ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti.

But those choices of theirs decay and perish,

12.4

Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

13.1

Viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.

They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

13.2

‘Ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’

13.3

Tassa ‘ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti pariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti.

But that consciousness of theirs decays and perishes,

13.4

Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

13.5

Evaṁ kho, gahapati, āturakāyo ceva hoti āturacitto ca.

That’s how one is ailing in body and ailing in mind.

14.1

Kathañca, gahapati, āturakāyo hi kho hoti no ca āturacitto?

And how is one ailing in body and healthy in mind?

14.2

Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto

It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons.

14.3

na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.

They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.

14.4

‘Ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re not obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’

14.5

Tassa ‘ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti.

So when that form of theirs decays and perishes,

14.6

Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

15.1

Na vedanaṁ attato samanupassati, na vedanāvantaṁ vā attānaṁ; na attani vā vedanaṁ, na vedanāya vā attānaṁ.

They don’t regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling.

15.2

‘Ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re not obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’

15.3

Tassa ‘ahaṁ vedanā, mama vedanā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti.

So when that feeling of theirs decays and perishes,

15.4

Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

16.1

Na saññaṁ attato samanupassati, na saññāvantaṁ vā attānaṁ; na attani vā saññaṁ, na saññāya vā attānaṁ.

They don’t regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception.

16.2

‘Ahaṁ saññā, mama saññā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re not obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’

16.3

Tassa ‘ahaṁ saññā, mama saññā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, sā saññā vipariṇamati aññathā hoti.

So when that perception of theirs decays and perishes,

16.4

Tassa saññāvipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

17.1

Na saṅkhāre attato samanupassati, na saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; na attani vā saṅkhāre, na saṅkhāresu vā attānaṁ.

They don’t regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices.

17.2

‘Ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re not obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’

17.3

Tassa ‘ahaṁ saṅkhārā, mama saṅkhārā’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti.

So when those choices of theirs decay and perish,

17.4

Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

18.1

Na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.

They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

18.2

‘Ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti na pariyuṭṭhaṭṭhāyī hoti.

They’re not obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’

18.3

Tassa ‘ahaṁ viññāṇaṁ, mama viññāṇan’ti apariyuṭṭhaṭṭhāyino, taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti.

So when that consciousness of theirs decays and perishes,

18.4

Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.

it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

18.5

Evaṁ kho, gahapati, āturakāyo hoti no ca āturacitto”ti.

That’s how an individual is ailing in body and healthy in mind.”

19.1

Idamavoca āyasmā sāriputto.

That is what Venerable Sāriputta said.

19.2

Attamano nakulapitā gahapati āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti.

Satisfied, Nakula’s father approved what Sāriputta said.

19.3

Paṭhamaṁ.