Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN10.5

Saṁyutta Nikāya 10.5 1. Indakavagga Sānusutta

Linked Discourses 10.5 1. With Indaka With Sānu

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 10: Tương Ưng Dạ Xoa

10.5. Sanu

Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.

Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Sānu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh.

Vi-n 3 Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:

Con ta là La-hán,
Ðối với ta là vậy,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Nay ta thấy Sānu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy,
Nay ta thấy Sānu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Những ai sống Phạm hạnh,
Dạ-xoa không ám ảnh,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Người nói với Sānu,
Có trí và sáng suốt,
Ðây là lời Dạ-xoa,
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật.
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Ông không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy,
Chạy một mạch, chạy dài.

Vi-n 4 (Sānu được khỏi ám ảnh):

Này mẹ, người ta khóc,
Là khóc cho người chết,
Hay khóc cho người sống,
Nhưng không được thấy mặt?
Này mẹ, chúng thấy con,
Hiện có mặt đang sống.
Vậy sao mẹ khóc con,
Này người mẹ thân yêu?

Vi-n 5 (Bà mẹ):

Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết.
Nay con được kéo ra,
Khỏi than hừng đỏ rực,
Con còn muốn rơi vào,
Ðống than hồng ấy chăng?
Nay con được thoát ra,
Khỏi địa ngục đau khổ,
Con còn muốn rơi vào,
Cõi địa ngục ấy chăng?
Hãy dong ruổi đời con,
Ta chúc con hạnh phúc,
Hãy sống như thế nào,
Không làm ai bực phiền.
Ðồ vật thoát lửa cháy,
Con muốn đốt lại chăng?

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

1.2

Tena kho pana samayena aññatarissā upāsikāya sānu nāma putto yakkhena gahito hoti.

Now at that time a certain lay woman had a son named Sānu who had been seized by a native spirit.

1.3

Atha kho sā upāsikā paridevamānā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:

And as that lay woman wept, on that occasion she recited these verses:

2.1

“Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,

“I have heard this from the perfected ones.

2.2

yā ca pakkhassa aṭṭhamī;

The native spirits will not mess with anyone

2.3

Pāṭihāriyapakkhañca,

who leads the spiritual life

2.4

aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.

by observing the sabbath

3.1

Uposathaṁ upavasanti,

complete in all eight factors

3.2

brahmacariyaṁ caranti ye;

on the fourteenth and the fifteenth days,

3.3

Na tehi yakkhā kīḷanti,

and the eighth day of the fortnight,

3.4

iti me arahataṁ sutaṁ;

as well as on the fortnight of special displays.

3.5

Sā dāni ajja passāmi,

But now today I see

3.6

yakkhā kīḷanti sānunā”ti.

native spirits messing with Sānu.”

4.1

“Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,

“What you heard from the perfected ones is right.

4.2

yā ca pakkhassa aṭṭhamī;

The native spirits will not mess with anyone

4.3

Pāṭihāriyapakkhañca,

who leads the spiritual life

4.4

aṭṭhaṅgasusamāgataṁ;

by observing the sabbath

5.1

Uposathaṁ upavasanti,

complete in all eight factors

5.2

brahmacariyaṁ caranti ye.

on the fourteenth and the fifteenth days,

5.3

Na tehi yakkhā kīḷanti,

and the eighth day of the fortnight,

5.4

sāhu te arahataṁ sutaṁ;

as well as on the fortnight of special displays.

6.1

Sānuṁ pabuddhaṁ vajjāsi,

When Sānu regains consciousness tell him

6.2

yakkhānaṁ vacanaṁ idaṁ;

this saying of the native spirits:

6.3

Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,

Don’t do bad deeds

6.4

āvi vā yadi vā raho.

either openly or in secret.

7.1

Sace ca pāpakaṁ kammaṁ,

If you should do a bad deed,

7.2

karissasi karosi vā;

or you’re doing one now,

7.3

Na te dukkhā pamutyatthi,

you won’t be freed from suffering,

7.4

uppaccāpi palāyato”ti.

though you fly away and flee.”

8.1

“Mataṁ vā amma rodanti,

“Mum, they cry for the dead,

8.2

yo vā jīvaṁ na dissati;

or for one who’s alive but missing.

8.3

Jīvantaṁ amma passantī,

I’m alive and you can see me,

8.4

kasmā maṁ amma rodasī”ti.

so mum, why do you weep for me?”

9.1

“Mataṁ vā putta rodanti,

“Son, they cry for the dead,

9.2

yo vā jīvaṁ na dissati;

or for one who’s alive but missing.

9.3

Yo ca kāme cajitvāna,

But someone who has given up sensual pleasures

9.4

punarāgacchate idha;

only to come back here again:

9.5

Taṁ vāpi putta rodanti,

they cry for them as well,

9.6

puna jīvaṁ mato hi so.

for though still alive they’re really dead.

10.1

Kukkuḷā ubbhato tāta,

My dear, you’ve been rescued from hot coals,

10.2

kukkuḷaṁ patitumicchasi;

and you want to plunge right back in them!

10.3

Narakā ubbhato tāta,

My dear, you’ve been rescued from the abyss,

10.4

narakaṁ patitumicchasi.

and you want to plunge right back there!

11.1

Abhidhāvatha bhaddante,

Hurry up, good luck to you!

11.2

kassa ujjhāpayāmase;

To whom should we complain?

11.3

Ādittā nīhataṁ bhaṇḍaṁ,

A valuable saved from a fire,

11.4

puna ḍayhitumicchasī”ti.

you want to burn again!”