Trang NhàTam TạngTương Ưng Bộ Kinh

Tương Ưng Bộ Kinh · Saṁyutta Nikāya · SN1.36

Saṁyutta Nikāya 1.36 4. Satullapakāyikavagga Saddhāsutta

Linked Discourses 1.36 4. The Host of a Hundred Felicities Faith

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Chương 1: Tương Ưng Chư Thiên
  • IV: Phẩm Quần Tiên

1.36. Lòng Tin

S.i,25Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).

Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Vi-n 3 Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

1.2

Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.

Then, late at night, several glorious deities of the host of a hundred felicities, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.

1.3

Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:

Standing to one side, one deity spoke this verse in the Buddha’s presence:

2.1

“Saddhā dutiyā purisassa hoti,

“Faith is a person’s partner.

2.2

No ce assaddhiyaṁ avatiṭṭhati;

If faithlessness doesn’t linger,

2.3

Yaso ca kittī ca tatvassa hoti,

fame and renown are theirs,

2.4

Saggañca so gacchati sarīraṁ vihāyā”ti.

and when they discard this corpse they go to heaven.”

3.1

Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:

Then another deity recited these verses in the Buddha’s presence:

4.1

“Kodhaṁ jahe vippajaheyya mānaṁ,

“Give up anger, get rid of conceit,

4.2

Saṁyojanaṁ sabbamatikkameyya;

and get past all the fetters.

4.3

Taṁ nāmarūpasmimasajjamānaṁ,

Chains don’t torment one who has nothing,

4.4

Akiñcanaṁ nānupatanti saṅgā”ti.

not clinging to name and form.”

5.1

“Pamādamanuyuñjanti,

“Fools and simpletons

5.2

bālā dummedhino janā;

devote themselves to negligence.

5.3

Appamādañca medhāvī,

But the wise protect diligence

5.4

dhanaṁ seṭṭhaṁva rakkhati.

as their best treasure.

6.1

Mā pamādamanuyuñjetha,

Don’t devote yourself to negligence,

6.2

mā kāmarati santhavaṁ;

or delight in erotic intimacy.

6.3

Appamatto hi jhāyanto,

For if you’re diligent and practice absorption,

6.4

pappoti paramaṁ sukhan”ti.

you’ll attain ultimate happiness.”