Trang NhàTam TạngTăng Chi Bộ Kinh

Tăng Chi Bộ Kinh · Aṅguttara Nikāya · AN8.23

Aṅguttara Nikāya 8.23 3. Gahapativagga Paṭhamahatthakasutta

Numbered Discourses 8.23 3. Householders With Hatthaka (1st)

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Aṅguttara Nikāya
  • III. Phẩm Gia Chủ

8.23. Hatthaka , Người Alavì (1)

TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?

TTC 3Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì.

Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

TTC 4Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:

—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.

—Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?

—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

TTC 5Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

—Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên:—“—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! “. Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:

—“Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng? “

—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.

TTC 6—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục.

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/

Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.

At one time the Buddha was staying near Āḷavī, at Āḷavī’s premier shrine.

1.2

Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:

There the Buddha addressed the mendicants:

1.3

“sattahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhāretha.

“Mendicants, you should remember the householder Hatthaka of Āḷavī as someone who has seven amazing and incredible qualities.

1.4

Katamehi sattahi?

What seven?

1.5

Saddho hi, bhikkhave, hatthako āḷavako;

He’s faithful,

1.6

sīlavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;

ethical,

1.7

hirīmā, bhikkhave, hatthako āḷavako;

conscientious,

1.8

ottappī, bhikkhave, hatthako āḷavako;

prudent,

1.9

bahussuto, bhikkhave, hatthako āḷavako;

learned,

1.10

cāgavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;

generous,

1.11

paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako—

and wise.

1.12

imehi kho, bhikkhave, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārethā”ti.

You should remember the householder Hatthaka of Āḷavī as someone who possesses these seven amazing and incredible qualities.”

1.13

Idamavoca bhagavā.

That is what the Buddha said.

1.14

Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.

When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.

2.1

Atha kho aññataro bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.

Then a certain mendicant robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Hatthaka of Āḷavī, where he sat down on the seat spread out.

2.2

Atha kho hatthako āḷavako yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho hatthakaṁ āḷavakaṁ so bhikkhu etadavoca:

Then Hatthaka went up to that mendicant, bowed, and sat down to one side. The mendicant said to Hatthaka:

3.1

“Sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.

“Respectable sir, the Buddha declared that you have seven amazing and incredible qualities.

3.2

Katamehi sattahi?

What seven?

3.3

‘Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;

He said that you’re faithful,

3.4

sīlavā …pe…

ethical,

3.5

hirīmā …

conscientious,

3.6

ottappī …

prudent,

3.7

bahussuto …

learned,

3.8

cāgavā …

generous,

3.9

paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako’ti.

and wise.

3.10

Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato”ti.

The Buddha declared that you possess these seven amazing and incredible qualities.”

3.11

“Kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano”ti?

“But sir, I trust that no white-clothed lay people were present?”

3.12

“Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano”ti.

“No, there weren’t any white-clothed lay people present.”

3.13

“Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano”ti.

“That’s good, sir.”

4.1

Atha kho so bhikkhu hatthakassa āḷavakassa nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.

Then that mendicant, after taking almsfood in Hatthaka of Āḷavī’s home, rose from his seat and left.

4.2

Atha kho so bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:

Then after the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him of what he had discussed with the householder Hatthaka. The Buddha said:

5.1

“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.

5.2

Atha kho, bhante, hatthako āḷavako yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.

5.3

Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhante, hatthakaṁ āḷavakaṁ etadavacaṁ:

5.4

‘sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.

5.5

Katamehi sattahi?

5.6

Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;

5.7

sīlavā …pe…

5.8

hirīmā …

5.9

ottappī …

5.10

bahussuto …

5.11

cāgavā …

5.12

paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavakoti.

5.13

Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato’ti.

6.1

Evaṁ vutte, bhante, hatthako maṁ etadavoca:

6.2

‘kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano’ti?

6.3

‘Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano’ti.

6.4

‘Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano’”ti.

7.1

“Sādhu sādhu, bhikkhu.

“Good, good, mendicant!

7.2

Appiccho so, bhikkhu, kulaputto.

That gentleman has few wishes.

7.3

Santeyeva attani kusaladhamme na icchati parehi ñāyamāne.

He doesn’t want his own good qualities to be made known to others.

7.4

Tena hi tvaṁ, bhikkhu, imināpi aṭṭhamena acchariyena abbhutena dhammena samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārehi, yadidaṁ appicchatāyā”ti.

Well then, mendicant, you should remember the householder Hatthaka of Āḷavī as someone who has this eighth amazing and incredible quality, that is, fewness of wishes.”

7.5

Tatiyaṁ.