Trang NhàTam TạngTăng Chi Bộ Kinh

Tăng Chi Bộ Kinh · Aṅguttara Nikāya · AN6.69

Aṅguttara Nikāya 6.69 7. Devatāvagga Devatāsutta

Numbered Discourses 6.69 7. A God A God

Bản tiếng Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bản dịch tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Chép lại từ suttacentral.net. Ấn tống — không bán. Nếu quý vị giữ bản quyền và không muốn chúng tôi đăng lại, xin cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ gỡ ngay.

  • Aṅguttara Nikāya
  • VII. Phẩm Chư Thiên

6.69. Vị Thiên Nhân

TTC 1Bấy giờ có một Thiên nhân, sau đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:

—Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa. Thế nào là sáu? Tôn kính Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa.

Thiên nhân ấy nói như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. thiên nhân ấy, với ý nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

TTC 2Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo và nói:

—Này các Tỷ-kheo, đêm nay có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy bạch với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn vị Tỷ-kheo đi đến không thối đọa. Thế nào là sáu? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, dắt dẫn Tỷ-kheo đi đến không thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, vị Thiên nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.

TTC 3Ðược nói như vậy, Tôn giả Sàriputta đảnh lễ Thế Tôn và thưa rằng:

—Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vầy: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo sư và nói lời tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, họ được khích lệ trong sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Và đối với các Tỷ-kheo khác có tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy nói lên lời tán thán với họ, như chân, như thật, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu và nói lời tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, họ được khích lệ trong sự tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy nói lên lời tán thán với họ, như chân, như thật, đúng thời. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Lành thay này Sàriputta, Thầy đã hiểu lời nói vắn tắt này của Ta một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, và nói lời tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư.

Ðối với các vị Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, họ được khích lệ trong sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Và đối với các vị Tỷ-kheo khác có tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy nói lên lời tán thán với họ như chân, như thật, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu và nói lời tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với các Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, họ được khích lệ trong sự tôn kính thiện bằng hữu. Và đối với các Tỷ-kheo khác có tôn kính bằng hữu, vị ấy nói lên lời tán thán với họ như chân, như thật, đúng thời. Này Sàriputta lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi.

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/

Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.

— Hết phần tiếng Việt. Bên dưới là nguyên văn Pāli và bản tiếng Anh, chia theo từng đoạn có đánh số. —

1.1

Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:

Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:

1.2

“chayime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti.

“Sir, these six things don’t lead to the decline of a mendicant.

1.3

Katame cha?

What six?

1.4

Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā—

Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training; being easy to admonish, and good friendship.

1.5

ime kho, bhante, cha dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī”ti.

These six things don’t lead to the decline of a mendicant.”

1.6

Idamavoca sā devatā.

That is what that deity said,

1.7

Samanuñño satthā ahosi.

and the Teacher concurred.

1.8

Atha kho sā devatā “samanuñño me satthā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.

Then that deity, knowing that the Teacher concurred, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.

2.1

Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:

Then, when the night had passed, the Buddha addressed the mendicants:

2.2

“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, sā devatā maṁ etadavoca:

“Tonight, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and said to me:

2.3

‘chayime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti.

‘Sir, these six things don’t lead to the decline of a mendicant.

2.4

Katame cha?

What six?

2.5

Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā—

Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training; being easy to admonish, and good friendship.

2.6

ime kho, bhante, cha dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.

These six things don’t lead to the decline of a mendicant.’

2.7

Idamavoca, bhikkhave, sā devatā.

That is what that deity said.

2.8

Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.

Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.”

3.1

Evaṁ vutte āyasmā sāriputto bhagavantaṁ abhivādetvā etadavoca:

When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha:

3.2

“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.

“Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.

3.3

Idha, bhante, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.

It’s when a mendicant personally respects the Teacher and praises such respect.

3.4

Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.

And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher.

3.5

Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.

And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.

3.6

Attanā ca dhammagāravo hoti …

They personally respect the teaching …

3.7

saṅghagāravo hoti …

They personally respect the Saṅgha …

3.8

sikkhāgāravo hoti …

They personally respect the training …

3.9

suvaco hoti …

They are personally easy to admonish …

3.10

kalyāṇamitto hoti kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.

They personally have good friends, and praise such friendship.

3.11

Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.

And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship.

3.12

Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.

And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.

3.13

Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”

4.1

“Sādhu sādhu, sāriputta.

“Good, good, Sāriputta!

4.2

Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.

It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

4.3

Idha, sāriputta, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti satthugāravatāya ca vaṇṇavādī.

It’s when a mendicant personally respects the Teacher …

4.4

Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti.

4.5

Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.

4.6

Attanā ca dhammagāravo hoti …

They personally respect the teaching …

4.7

saṅghagāravo hoti …

They personally respect the Saṅgha …

4.8

sikkhāgāravo hoti …

They personally respect the training …

4.9

suvaco hoti …

They are personally easy to admonish …

4.10

kalyāṇamitto hoti kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī.

They personally have good friends, and praise such friendship.

4.11

Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti.

And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship.

4.12

Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.

And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.

4.13

Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.

This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”

4.14

Pañcamaṁ.