Kinh Người Bắt Rắn — Im Lặng Sấm Sét
Có một vị khất sĩ tên Arittha tuyên bố rằng theo chỗ thầy hiểu lời Bụt dạy thì hưởng thụ dục lạc không phải là chướng ngại cho sự tu tập. Chư huynh đệ can gián ba lần. Thầy vẫn không lay. Từ một chỗ cố chấp nhỏ như vậy mà có được một trong những bài kinh quan trọng bậc nhất của tạng kinh — và hai hình ảnh nổi tiếng nhất của nó: người đi bắt rắn, và người đội chiếc bè lên đầu mà đi.
Về trang này
Trang này gom về một chỗ: chánh văn bài kinh bằng tiếng Việt và tiếng Anh theo bản dịch của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, trọn bộ chú giải của Người trong sách Im Lặng Sấm Sét, và chín buổi nghe — sáu buổi sách đọc phần chú giải, cùng ba buổi pháp thoại do chính Thiền sư giảng tại Làng Mai năm 1998.
Toàn bộ phần chánh văn và chú giải bên dưới là lời của Thiền sư, chép lại để học. Chỗ nào đơn vị chúng tôi thêm vào thì đều có ghi rõ.
Vài nét về bài kinh
Trong tạng kinh Nam truyền ghi bằng tiếng Pāli, bài này tên là Kinh Ví Dụ Rắn (Alagaddūpamasutta), kinh thứ 22 của Trung Bộ (Majjhima Nikāya, MN 22). Trong tạng kinh Bắc truyền ghi bằng chữ Hán, bài này tên là Kinh A Lê Sá, thuộc bộ Trung A Hàm — do thầy Gautama Saṅghadeva (Tăng-già-đề-bà) đời Đông Tấn dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán vào khoảng năm 397–398. Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch sang tiếng Việt từ tụng bản chữ Hán, đối chiếu suốt với tụng bản Pāli.
Một ghi chú của đơn vị, về số hiệu bài kinh
Sách ghi tụng bản chữ Hán là kinh thứ 220 của bộ Trung A Hàm. Các sách tra cứu hiện nay — mục lục Đại Chánh, bảng đối chiếu Dharma Pearls, SuttaCentral, và bản Trung A-hàm tiếng Việt do Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ dịch — đều đánh Kinh A-lê-tra là số 200 chứ không phải 220. Chúng tôi giữ nguyên sách in và ghi chỗ khác biệt ra đây, chứ không tự sửa lời của Thiền sư.
Vì sao bài này thuộc chương trình Bậc Lực thì rất dễ nói. Đề tài của nó không phải một giáo lý mà là một thái độ — cách tiếp nhận giáo pháp sao cho khỏi bị chính giáo pháp cắt phải. Với người sắp đứng trước đàn em mà giảng giải Phật pháp, đó là kỹ năng đầu tiên, không phải kỹ năng cuối cùng.
Chánh văn — Kinh Người Bắt Rắn
Alagaddūpamasutta · bản dịch của Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn du hành ở Savatthi trong vườn Cấp Cô Độc rừng cây Kỳ Đà. Dạo ấy, khất sĩ Arittha, vốn xưa là người huấn luyện chim ưng, có tà kiến như sau: “Theo sự hiểu biết của tôi về điều Bụt dạy, hưởng thụ dục lạc không phải là chướng ngại cho sự tu tập.” Nghe đồn như thế nhiều vị khất sĩ tìm tới Arittha và hỏi: “Arittha, có phải sư huynh đã nói rằng theo sự hiểu biết của sư huynh về lời Bụt dạy thì hưởng thụ dục lạc không có chướng ngại gì cho sự tu tập, có phải thế không?” Khất sĩ Arittha trả lời: “Các hiền hữu, quả là như thế. Tôi nghĩ rằng Bụt không cho sự hưởng thụ dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập.” Các vị khất sĩ bảo: “Này sư huynh Arittha, sư huynh đừng nói như thế, đừng có bài báng và vu khống đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn không hề nói như vậy; bài báng và vu khống đức Thế Tôn là không tốt. Sư huynh Arittha, dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn đã dùng rất nhiều ví dụ để nói với chúng ta điều đó. Sư huynh nên từ bỏ tà kiến ấy đi.” Tuy đã được các khất sĩ chỉ bảo cho như thế nhưng khất sĩ Arittha vẫn không nghe, vẫn cố thủ tà kiến của mình, vẫn một mực nói rằng điều ông ta nghĩ là sự thực, ngoài ra các ý kiến khác đều sai lầm. Can thiệp như vậy đến ba lần mà không có hiệu quả, các vị khất sĩ mới đứng dậy bỏ đi. Họ tìm tới Bụt. Sau khi đảnh lễ dưới chân người, các vị ngồi một bên và bạch với Bụt: “Bạch đức Thế Tôn, khất sĩ Arittha chủ trương tà kiến là theo lời Thế Tôn dạy, hành lạc không phải là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn, nghe nói như thế, chúng con đã tìm tới với sư huynh Arittha, đã kiểm chứng lại điều sư huynh nói, và đã nói với sư huynh rằng Thế Tôn không hề nói như thế. Chúng con khuyên sư huynh nên lập tức bỏ tà kiến ấy đi, không nên vu khống cho đức Thế Tôn vì làm như vậy là không tốt. Chúng con can thiệp tới ba lần nhưng không làm cho sư huynh Arittha từ bỏ được tà kiến ấy, vì vậy chúng con bỏ về đây.”
Nghe xong, Thế Tôn bảo một vị khất sĩ: “Thầy hãy tìm đến trú xứ của khất sĩ Arittha và nói với thầy ấy rằng tôi gọi.” Vị khất sĩ ấy vâng lời dạy của đức Thế Tôn, đứng dậy đảnh lễ Bụt, đi vòng ba lần quanh người rồi đi. Được Bụt gọi, khất sĩ Arittha lập tức tìm về, đến đảnh lễ Bụt và ngồi lại một phía bên người. Bụt bảo: “Thầy Arittha, thầy đã nói rằng theo cái hiểu của thầy thì tôi không cho sự hành dục là một chướng ngại cho sự tu tập, có phải không?”
Thầy Arittha đáp: “Thế Tôn, con thật sự nghĩ rằng theo tinh thần Thế Tôn dạy, hành dục không phải là chướng ngại cho sự tu tập.”
Đức Thế Tôn quở: “Thầy Arittha, bằng cách nào mà thầy lại cho rằng tôi đã nói pháp như thế? Từ miệng người nào mà thầy lại nghe điều đó? Thầy thật là dại dột. Điều mà tôi chưa từng nói, thầy lại cứ bảo tôi có nói. Nghe các vị khất sĩ anh em khuyên bảo, đáng lý thầy cũng đã phải theo pháp mà ứng đáp… Bây giờ đây để tôi hỏi các thầy khất sĩ khác xem sao.”
Nói tới đây, Bụt quay lại hỏi các vị khất sĩ: “Các vị có từng nghe tôi dạy là hành dục không gây ra chướng ngại gì cho sự tu tập hay không?”
Các vị khất sĩ đáp: “Bạch Thế Tôn, không. Chúng con không từng nghe như thế.”
Đức Thế Tôn hỏi: “Vậy các thầy nghe tôi nói như thế nào?”
Các vị khất sĩ đáp: “Chúng con đều từng nghe đức Thế Tôn dạy rằng dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn thường dạy dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm cầm ngược gió, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái…”
Đức Thế Tôn bảo: “Đúng vậy, các vị khất sĩ. Tôi thường thuyết pháp như thế, quý vị đã nghe đúng. Vì sao? Dục lạc là chướng ngại. Dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái… Các thầy đã nghe đúng. Còn khất sĩ Arittha đây là người dại dột, đã hiểu lời tôi một cách đảo ngược, về văn cũng như về nghĩa, và như vậy đã vu khống bài báng tôi và cũng đã tự làm hại mình. Đây là một sự vi phạm, một sự lỗi lầm cho những bậc trí giả và phạm hạnh mất vui.”
Nghe đức Thế Tôn quở trách như thế, thầy Arittha cúi đầu im lặng, trong lòng lo buồn, không tìm ra được lời nào để đối đáp.
Quở thầy Arittha xong, Bụt dạy các vị khất sĩ:
“Những giáo pháp tôi nói, các thầy phải tìm hiểu nghĩa lý một cách thật tường tận và đúng mức rồi mới nên đem ra hành trì. Nếu chưa tìm hiểu được nghĩa lý một cách tường tận và đúng mức thì trước hết hãy nên hỏi lại chính tôi hoặc hỏi lại các bậc trí giả và các bậc phạm hạnh đã. Tại sao? Có những người thiếu trí tuệ, vì có nhận thức sai lạc về văn và về nghĩa, đã hiểu ngược những điều đề cập đến trong các thể tài kinh điển như chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tụng, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sinh xứ, quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghị. Những người ấy đã học với chủ ý tranh luận hơn thua mà không học vì mục đích tu tập giải thoát nên đã bị kẹt vào sự việc mà không tiếp nhận được chân nghĩa của kinh. Họ trải qua nhiều gian nan cực khổ mà không có lợi ích gì, rốt cùng chỉ thêm mệt mỏi. Cũng giống như người đi bắt rắn ở miền hoang dã, thấy rắn lớn liền lấy tay chụp vào mình nó cho nên bị rắn quay đầu lại mổ vào tay, vào chân hoặc vào một bộ phận nào khác của cơ thể. Bắt rắn như vậy thì không có ích lợi gì mà lại mang họa vào thân. Lý do là tại người ấy không biết thủ thuật bắt rắn. Người học kinh không thông minh cũng vậy: vì không biết cách học hỏi nên đã hiểu kinh một cách trái ngược.
Những kẻ khôn ngoan sẽ biết cách khéo léo tiếp nhận văn kinh và nghĩa kinh, do đó không có những kiến giải đảo lộn. Họ không học vì mục đích khoe khoang và tranh cãi. Họ học với mục đích tìm đường giải thoát. Vì vậy họ không hề cực khổ và lao nhọc. Họ cũng giống như người đi bắt rắn mà biết sử dụng một khúc cây có nạng sắt: khi đến vùng hoang dã, thấy rắn lớn, họ ấn nạng ngay xuống cổ con rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể quẫy đuôi, quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác của cơ thể người bắt rắn nhưng không thể nào mổ người ấy được. Bắt rắn như vậy không cực khổ mà cũng không lao nhọc, chỉ vì người ấy biết rõ thủ thuật bắt rắn. Người con trai hoặc con gái nhà lành khi học đến kinh điển phải biết khéo léo tiếp nhận văn và nghĩa kinh một cách không đảo lộn thì mới nắm được chánh pháp. Họ không học hỏi với mục đích ba hoa tranh cãi mà chỉ học với mục đích tìm cầu giải thoát. Họ không cần trải qua những cực khổ và nhọc nhằn.
Các vị khất sĩ, tôi đã nhiều lần nói với quý vị về ví dụ chiếc bè, và căn dặn quý vị phải biết buông bỏ chiếc bè mà đừng nắm giữ nó kỹ quá. Ví dụ có một hôm nước trên núi tràn về thành dòng lớn ngập lụt và trôi giạt nhiều thứ. Có kẻ muốn qua bên kia bờ mà không có thuyền cũng không có cầu. Người ấy nghĩ: ta có việc cần phải qua bên kia, nhưng phải tìm phương thế an ổn để mà qua. Nghĩ như vậy rồi liền đi lượm cây cỏ kết lại thành một chiếc bè và dùng bè đó để vượt dòng sang bờ bên kia một cách an ổn. Qua bên kia rồi người ấy nghĩ: ‘Ta mất bao nhiêu công phu và thì giờ mới kết được một chiếc bè và nhờ nó mà mới qua được bên này. Vậy ta không nên bỏ nó. Bây giờ ta phải khiêng nó lên vai hoặc đội nó lên đầu mà đi.’ Người ấy nói rồi làm như thế. Các vị khất sĩ! Các vị nghĩ người ấy làm như thế có ích lợi gì không?”
Các vị khất sĩ đáp: “Bạch đức Thế Tôn, không.”
Bụt nói: “Kẻ kia làm thế nào để chiếc bè ấy tiếp tục có ích? Ông ta nên nghĩ rằng: ‘Chiếc bè này đã giúp ta vượt dòng sông qua đây an ổn, vậy ta nên thả chiếc bè lại xuống nước hoặc để nó bên bờ, như vậy người đến sau sẽ có được cơ hội dùng nó.’ Này các vị khất sĩ, nghĩ và làm như thế thì có ích lợi không?”
Các vị khất sĩ đáp: “Bạch đức Thế Tôn, có.”
Bụt dạy: “Tôi đã nhiều lần nói với quý vị về ví dụ chiếc bè là vì thế. Pháp mà còn phải buông bỏ, huống hồ là cái không phải Pháp.
Này các vị khất sĩ! Có sáu kiến xứ nghĩa là sáu loại nhận thức sai lầm nên buông bỏ. Những gì là sáu?
Trước hết là sắc thân. Sắc thân, dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, sắc thân ấy cũng không phải là của ta, không phải là ta, cũng không phải là thần ngã. Vị khất sĩ phải biết quán chiếu để thấy được sự thật về sắc thân.
Thứ hai là cảm thọ. Thứ ba là tri giác. Thứ tư là tâm hành. Những pháp ấy dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, xa hay gần đều không phải là của ta, không phải là ta, cũng không phải là thần ngã.
Thứ năm là nhận thức: những gì ta thấy, nghe, hay, biết, nắm bắt, quan sát và tư niệm, trong thời gian này hay thời gian khác, những thứ ấy đều không phải là của ta, đều không phải là ta, đều không phải là thần ngã.
Sau hết là thế giới. Có kẻ quan niệm rằng: ‘Thế giới là thần ngã, thần ngã là thế giới, thế giới là ta, ta sẽ tồn tại không biến dịch sau khi chết, ta là cái vĩnh viễn không mòn diệt.’ Ta nên quán chiếu để thấy rằng thế giới không phải là của ta, không phải là ta, không phải là thần ngã. Quán chiếu để thấy được sự thực ấy về thế giới.”
Nghe đến đây, một vị khất sĩ đứng dậy trật vai áo bên phải ra, chắp tay hướng về Bụt và bạch: “Thế Tôn, có thể vì lý do nội tại mà hoảng sợ và lo buồn hay không?”
Bụt dạy: “Có thể. Nếu có kẻ nhận thức và nói như sau: ‘Cái ấy ngày xưa vốn không có, rồi trở nên có, mà bây giờ tôi lại không có.’ Nhận thức như thế và nói như thế thì kẻ ấy có thể u sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại.”
Vị khất sĩ hỏi: “Thế Tôn, có thể vì lý do nội tại mà không có sự hoảng sợ và lo buồn hay không?”
Bụt dạy: “Có thể. Nếu có kẻ không nhận thức và nói như sau: ‘Cái ấy ngày xưa vốn không có, bây giờ có, mà tôi lại không có.’ Kẻ ấy sẽ không u sầu than khóc và không đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự không hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại.”
Vị khất sĩ hỏi: “Thế Tôn, có thể vì lý do ngoại tại đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn hay không?”
Bụt dạy: “Có thể. Giả sử có kẻ nhận thức và nói như sau: ‘Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau.’ Rồi người ấy gặp Bụt hay một người học trò của Bụt có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly, các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn, triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy có thể nghĩ rằng: ‘thôi thế là hết, ta sẽ buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không thể tồn tại mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.’ Nghĩ như thế, kẻ ấy có thể u sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại có thể đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn.”
Vị khất sĩ hỏi: “Thế Tôn, có thể có lý do ngoại tại đưa đến sự không hoảng sợ và lo buồn hay không?”
Bụt dạy: “Có thể. Giả sử có kẻ không nhận thức và nói như sau: ‘Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau.’ Rồi người ấy gặp Bụt hay một người học trò của Bụt có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy sẽ nghĩ rằng: ‘Thôi thế là hết, ta phải buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không tồn tại mãi mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.’ Người ấy sẽ không ưu sầu than khóc và không đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại đưa đến không hoảng sợ và lo buồn.”
Lúc bấy giờ, vị khất sĩ mở lời khen ngợi đức Thế Tôn, tiếp nhận những lời của Bụt rồi im lặng.
Bụt hỏi: “Các vị khất sĩ! Các vị có nhận thức về năm uẩn và về cái ta như một cái gì thường trú, không biến dịch và không hoại diệt hay không?” — “Bạch Thế Tôn, không.” — “Có một cái gì mà ta tiếp nhận và nắm bắt với sự tham ái mà lại không gây ra lo lắng, mệt nhọc, than khóc, khổ đau và tuyệt vọng hay không?” — “Bạch Thế Tôn, không.” — “Quý vị có thấy chỗ tựa nào cho một ngã kiến mà không đem lại lo lắng, mệt nhọc, than khóc, khổ đau và tuyệt vọng hay không?” — “Bạch Thế Tôn, không.”
“Hay lắm! Vì có ý niệm về ta cho nên có ý niệm về của ta, nếu không có ý niệm về ta thì sẽ không có ý niệm về của ta. Ta và của ta đều là những ý niệm không thể nắm bắt được, không thể thiết lập được. Những nhận thức sai lầm ấy nếu phát sinh trong tâm ta sẽ kết thành những triền sử. Những triền sử ấy được phát từ những khái niệm không nắm bắt được mà cũng không thành lập được. Phải chăng cái đó hoàn toàn chỉ là những nhận thức sai lầm và những hậu quả nối dài của những nhận thức sai lầm ấy, như trong trường hợp khất sĩ Arittha xưa kia làm nghề huấn luyện chim ưng?”
Các vị khất sĩ đáp: “Đúng như thế, thưa đức Thế Tôn.”
Bụt dạy: “Nếu quả sáu đối tượng (sắc, thọ, tưởng, hành, thức và thế giới) ấy mà không thấy có cái ta và cái của ta, vị khất sĩ không bị vướng vào những ràng buộc của cuộc đời. Vì không bị vướng vào cho nên không hoảng sợ, không hoảng sợ cho nên đạt được niết bàn. Vị ấy biết luân hồi khổ đau đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn tất, điều cần làm đã làm, không còn bị sanh tử nữa, và nhận thức được chân lý thực tại. Một vị khất sĩ như thế đã lấp được thông hào, vượt được thông hào, phá được thành quách, mở tung được lề khóa, soi được vào gương thánh trí.
Thế nào là lấp được thông hào? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của vô minh; vô minh đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. Thế nào là vượt được thông hào? Nghĩa là vị ấy biết hết và thấy rõ bản chất của hữu và ái; hữu và ái đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. Thế nào là phá cho tan thành quách? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của sinh tử luân hồi; sinh tử luân hồi đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. Thế nào là mở tung lề khóa? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của năm thứ độn sử; độn sử đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. Thế nào là soi được vào gương thánh trí? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của ngã mạn; ngã mạn đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa.
Các vị khất sĩ! Đó là trường hợp của Như Lai và của các vị khất sĩ đã giải thoát. Vua trời Đế Thích, Sinh Chủ, Phạm Thiên và quyến thuộc của họ dù có đi tìm kiếm cũng không thể nào thấy được dấu tích y cứ của tâm thức Như Lai. Tôi thường nói: Như Lai là trạng thái cao quý. Như Lai là trạng thái mát mẻ. Như Lai là trạng thái không nóng bức. Như Lai là trạng thái không còn sự khóc than. Vì nghe tôi giảng dạy như thế nên nhiều vị Sa môn và phạm hạnh đã vu báng tôi là vọng ngôn, là không chân thật. Họ nói: Sa môn Gotama chủ trương thuyết hư vô và tuyên dương chủ nghĩa hoại diệt; trong khi chúng sanh là những thực thể có thật. Những điều họ nói, Như Lai có bao giờ chủ trương đâu. Như Lai thực sự chỉ nói pháp diệt khổ đem đến trạng thái vô ưu. Nếu có ai tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập, Như Lai cũng không giận dỗi, không ghét bỏ cũng không có ý trả thù. Nếu có kẻ tới la mắng, phỉ báng và đánh đập Như Lai thì Như Lai sẽ phản ứng ra sao? Như Lai sẽ nghĩ rằng: Nếu có người tới cung kính, cúng dường, lễ bái và tôn trọng Như Lai thì không phải vì thế mà Như Lai mừng rỡ. Như Lai chỉ nghĩ rằng người ấy đến vì thành quả của sự đạt ngộ và của sự chuyển hóa nơi Như Lai mà thôi.
Các vị khất sĩ! Nếu người ta tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập các vị, hoặc tới cung kính cúng dường, lễ bái và tôn trọng quý vị, thì quý vị cũng không nên vì thế mà mừng rỡ hoặc phát tâm giận dữ muốn trả thù lại họ. Vì sao? Vì xét ra thì không có cái ta mà cũng không có cái của ta. Ví như bây giờ đây, ở tại bên ngoài khu vườn này, có người đem tom góp cành khô và cỏ khô đem về đốt và sử dụng, thì chúng ta có nên nghĩ là chúng ta đang bị người ta đem đốt và sử dụng không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Cũng như thế đó! Nếu người ta có tới khen ngợi, cung kính và cúng dường hoặc chê bai, mắng nhiếc và phỉ báng thì chúng ta cũng không nên lấy đó làm mừng hoặc làm giận. Tại sao thế! Tại vì cái ta đã không có mà cái của ta cũng không. Chánh pháp đã được tôi trình bày đầy đủ, không có khuyết điểm và đã được truyền bá rộng rãi trong hai giới người và trời. Nếu có chánh trí mà hiểu thấu được thì hiệu lực của chánh pháp ấy sẽ vô cùng. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được năm độn sử thì trong đời kế tiếp sẽ đạt được niết bàn, vào được địa vị không thoái chuyển và không còn trở lại luân hồi sinh tử. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được ba kiết sử là tham, sân và si thì chỉ cần sinh ra thêm một lần trong cõi trời hay cõi người rồi cũng tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đắc quả Tu Đà Hoàn thì không còn rơi vào ác pháp, nhất định đi về hướng chánh giác, sau bảy lần sinh lại trong hai cõi trời và người thì sẽ tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đã có lòng tin hiểu nơi giáo pháp thì đều sẽ sinh lên những cõi lành và sẽ tiếp tục đi trên con đường hướng về nẻo thánh.” Bụt nói như thế.
Các vị khất sĩ nghe Bụt nói xong, hoan hỷ phụng hành.
Mấy đoạn cốt tủy — bản tiếng Anh
Trích bản tiếng Anh do chính Thiền sư dịch — Discourse on Knowing the Better Way to Catch a Snake, dịch từ Kinh A Lê Sá (Trung A Hàm, chữ Hán) và Alagaddupama Sutta (Trung Bộ 22, Pāli). Dưới đây là những đoạn hay được trích nhất.
Con rắn
“Bhikshus, a person who studies that way can be compared to a man trying to catch a poisonous snake in the wild. If he reaches out his hand, the snake may bite his hand, leg, or some other part of his body. Trying to catch a snake that way has no advantages and can only create suffering.
“Bhikshus, an intelligent student of the Dharma is like a man who uses a forked stick to catch a snake. When he sees a poisonous snake in the wild, he places the stick right below the head of the snake and grabs the snake’s neck with his hand. Even if the snake winds itself around the man’s hand, leg, or another part of his body, it will not bite him. This is the better way to catch a snake, and it will not lead to pain or exhaustion.”
Chiếc bè
“How could she have acted more wisely? She could have thought, ‘This raft helped me get across the water safely. Now I will leave it at the water’s edge for someone else to use in the same way.’ … I have given this teaching on the raft many times to remind you how necessary it is to let go of all the true teachings, not to mention teachings that are not true.”
Ta và của ta
“Whenever there is an idea of self, there is also an idea of what belongs to the self. When there is no idea of self, there is no idea of anything that belongs to the self. Self and what belongs to the self are two views that are based on trying to grasp things that cannot be grasped and to establish things that cannot be established.”
Như Lai
“The Tathagata is a noble fount of freshness and coolness. There is no great heat and no sorrow in this state. … In truth, the Tathagata teaches only the ending of suffering in order to attain the state of non-fear. If the Tathagata is blamed, criticized, defamed, or beaten, he does not care. He does not become angry, walk away in hatred, or do anything in revenge.”
Chú giải · Đại ý kinh
Kinh này nói về thái độ cẩn trọng và sự khéo léo cần có trong khi học hỏi và hành trì giáo pháp của Bụt. Hai ví dụ hay đã được đem ra để làm phương tiện giảng dạy: đó là ví dụ con rắn và ví dụ chiếc bè. Kinh nổi tiếng một phần cũng vì hai ví dụ ấy.
Nghe kinh và học hỏi giáo pháp ta phải cẩn thận và khôn khéo để đừng hiểu lầm ý Bụt. Hiểu lầm như thế vừa oan cho Bụt, vừa có hại cho ta và cho những kẻ khác. Học hỏi kinh giáo là để đem ra thực tập chứ không phải để lý luận khoe khoang. Những giáo lý như vô ngã và niết bàn là những giáo lý rất sâu sắc và mầu nhiệm không dễ gì hiểu nổi, nếu ta không đem hết tâm ý và sự thành khẩn ra để học hỏi.
Người đương thời của Bụt hiểu lầm Bụt đã đành mà chính nhiều đệ tử của Bụt, ngay trong thời Bụt tại thế, cũng đã hiểu lầm giáo lý của Bụt, đừng nói gì đến những người sống trong thời đại chúng ta, và cả chúng ta nữa. Phải hiểu giáo lý của Bụt như một con đường, như một chiếc bè qua sông mà không như một chủ thuyết triết học.
Sự hiểu lầm của thầy Arittha
Thầy Arittha là ai? Trước khi xuất gia, thầy đã làm nghề huấn luyện chim ưng. Thầy tu học trong tăng đoàn ở địa phương Chabbaggiya, có lẽ không xa thủ đô Sravasti (Xá Vệ) là mấy. Đọc luật Nam truyền, ta thấy thầy Arittha, sau khi được các thầy khác khuyến cáo ba lần mà không chịu bỏ quan điểm của mình, đã bị tăng đoàn kết tội ba dật đề (pācittiya) và khép vào kỷ luật biệt trú (ukkhepanīyakamma).
Đọc những tài liệu này và đọc kinh Người Bắt Rắn, ta có cảm tưởng thầy Arittha tuy có hơi cứng đầu nhưng không phải là người quá thiếu thông minh. Theo tôi thấy thì nguyên do sự hiểu lầm này nằm ở chỗ thầy Arittha nhầm lẫn an lạc với dục lạc. Bụt dạy sự an lạc nuôi dưỡng ta và dục lạc làm ta khổ.
Có những người nghĩ rằng đã tu thì phải khổ hạnh và không nên hưởng sự an lạc, dù sự an lạc này không có chướng ngại gì cho sự tu tập. Ngồi hóng gió mát, ngắm một cảnh mặt trời lặn, tắm trong một dòng suối nước nóng, thưởng thức một bát nước trong khi có cơn khát, vân vân… là những niềm vui không đem tới khổ đau và ràng buộc, nhất là trong khi thưởng thức những niềm vui ấy, ta có ý thức sáng tỏ là vạn vật vô thường.
Bụt đã thường chứng tỏ là người có khả năng thưởng thức những niềm vui như thế. Khi đứng trên đồi với thầy Ananda, nhìn xuống thấy những cánh đồng lúa vàng, Bụt chỉ cho thầy thấy cái đẹp của cảnh vật. Khi trèo lên núi Thứu hoặc đi ngang thành Vesali, Bụt nói với thầy Ananda: “núi Thứu đẹp, phải không Ananda? Thành Vesali đẹp, phải không Ananda?” Những chi tiết ấy cho ta thấy không bao giờ Bụt từ chối sự an lạc và cho sự an lạc là một chướng ngại cho sự tu tập.
Nhưng Bụt cũng nói là năm thứ dục lạc (tiền bạc, sắc dục, danh vọng, ăn ngon và ngủ nhiều) là những chướng ngại cho sự tu tập. Mỗi đêm ngủ năm giờ đồng hồ, mà ngủ thật ngon, thì không có hại gì cho sự tu tập hết. Tuy nhiên, để gần hết thì giờ trong ngày mà ngủ thì đó là một chướng ngại. An lạc trở thành dục lạc. Ăn một bữa cơm thanh đạm nhưng ngon lành và bổ dưỡng, ăn thật chậm, thật có chánh niệm, có hạnh phúc trong khi ăn, điều này không có hại gì cho sự tu tập. Trái lại nếu cứ bị ám ảnh bởi thức ăn ngon, để ra thật nhiều thì giờ mà tìm cầu món ăn ngon thì lại là một chướng ngại.
Tai họa của dục lạc
Dục lạc là khúc xương trần không còn dính thịt, liệng cho một con chó đói không làm cho con chó bớt đói. Dục lạc là miếng thịt sống mà con chim cắp trong mỏ nó, nếu nó không chịu buông miếng thịt ra khi có một con chim lớn hơn tới tranh giành thì có thể mất mạng. Dục lạc là bó đuốc rơm cầm ngược gió, có thể làm cháy phỏng tay. Dục lạc là hố than hồng mà kẻ khác vì lôi kéo mình đi theo có thể đẩy mình vào cho chết cháy. Dục lạc là con rắn độc, nguy hiểm không chừng. Dục lạc là một giấc mộng, ngắn ngủi và không thật. Dục lạc là của vay mượn, không phải chân thật của mình. Dục lạc là cây sai trái, bị người ta tới vịn cành hái quả làm cho tan hoang cành lá. Trong tụng bản Pāli còn có hai ví dụ nữa: dục lạc như một đống đao thương, và dục lạc như một lò sát sinh.
Điều cần phải nói ở đây là dục lạc không phải là an lạc. Dục lạc có hại nhưng an lạc lại cần thiết cho sự tu tập và cho sức khỏe thể chất và tinh thần của người hành đạo. Dục lạc gây khổ đau và vướng mắc, trong hiện tại cũng như trong tương lai, cho mình và cho người. An lạc không gây đau khổ và vướng mắc. Người tu phải có khả năng an lạc. Niết bàn là trạng thái an lạc cao nhất mà người tu có thể đạt tới.
Cái nguy của sự hiểu lầm giáo lý
Có hai nguyên do khiến người ta hiểu ngược ý kinh: một là thiếu trí tuệ và khéo léo, hai là học kinh chỉ vì mục đích tranh luận và tìm cầu danh lợi. Nguyên văn chữ Hán “tri thử pháp bất đắc thử nghĩa” có nghĩa là: kẹt vào sự mà đánh mất lý.
Những người học kinh với chủ đích tranh luận hơn thua cố nhiên là đáng trách, bởi vì họ đã không nhắm đến mục đích tu tập giải thoát. Nhưng không phải vì thế mà tất cả những người nào học kinh với mục đích tu tập giải thoát đều là những người đi đúng đường. Dù có ý hướng tốt, họ cũng phải có trí tuệ và sự khéo léo thì mới không hiểu ngược ý kinh.
“Khéo léo tiếp nhận văn kinh và nghĩa kinh một cách không đảo lộn” là chìa khóa của sự học hỏi chánh pháp. Đó là dịch từ nhóm chữ bất điên đảo thiện thọ giải nghĩa cập văn. Bất điên đảo là không đảo lộn. Thiện là khéo léo. Thọ là tiếp nhận.
Các bậc trí giả nói đây tức là các bậc có chứng đắc chứ không phải chỉ là những người có nhiều kiến thức. Các bậc phạm hạnh là những người đang sống trong sạch và gương mẫu chứ không hẳn là những người đang sống khắt khe và khổ hạnh về phương diện hình thức.
Bắt rắn
Ít ai đem rắn để ví dụ cho giáo lý hoặc chủ thuyết của mình có thể nguy hiểm nếu nhận thức không nghiêm túc và thực hành không chính xác. Bụt không bao giờ nói rằng giáo lý của người là một chủ thuyết. Giáo lý của người chỉ là một phương tiện hướng dẫn thực tập. Phải có thông minh và khéo léo mới sử dụng được giáo lý ấy. Nếu không, giáo lý ấy cũng có thể trở thành nguy hiểm và có hại.
Có lúc Bụt được miêu tả như một lương y và giáo lý của Bụt như lương dược. Thuốc men nếu dùng cho đúng thì sẽ chữa được bệnh tật, nếu không thì cũng có thể nguy hiểm cho tánh mạng của bệnh nhân. Hiểu lầm và hành lầm giáo lý của Bụt là điều đã xảy ra ngay trong thời đại Bụt: tại tu viện Trùng Các trong rừng Đại Lâm gần thành phố Vesali chẳng hạn, trong một mùa an cư đã có mấy thầy tự tử vì đã nghe Bụt giảng về vô thường, vô ngã và bất tịnh. Nghe trực tiếp mà còn hiểu lầm, huống hồ nghe gián tiếp.
Chiếc bè
Ví dụ bắt rắn diễn tả được hiểm nguy của cái học thiếu thông minh và khéo léo. Ví dụ chiếc bè diễn tả được sự vướng mắc của cái học thiếu thông minh và khéo léo.
“Pháp mà còn phải buông bỏ, huống hồ là cái không phải Pháp.”
Đó là một lời tuyên bố vĩ đại, giống như tiếng gầm của một con sư tử lớn. Lời tuyên bố này được lấy lại nguyên vẹn trong kinh Kim Cương Gươm Báu Chặt Đứt Phiền Não. Đây là một tiếng hét có khả năng giúp hành giả ngàn đời buông bỏ thái độ cố chấp của mình. Bụt là vị thiền sư của tất cả các vị thiền sư lỗi lạc nhất. Tiếng hét của thiền sư Lâm Tế chỉ là âm hưởng của lời tuyên bố này của Bụt.
Bụt dạy Vô thường, Vô ngã, Không và Niết Bàn không phải là những chủ thuyết mà chỉ là những phương tiện giúp ta thực tập. Tiếp nhận những giáo lý ấy như những chủ thuyết tức là bị kẹt. Có biết bao nhiêu người, trong thời Bụt và trong thời chúng ta, đã và đang học Bụt như một chủ thuyết chỉ để thỏa mãn trí năng, để mà tự hào là mình thông hiểu giáo lý và để mà hý luận. Hý luận nghĩa là đàm luận cho vui, như một trò giải trí. Pháp đàm để làm sáng tỏ đường lối tu học thì mới thực sự là Pháp đàm. Nếu không thì chỉ là hý đàm, và môi trường trong đó người ta hý đàm không còn là một đạo trường nữa mà sẽ trở nên một hý trường.
Nếu chúng ta còn nói: “Vâng, giáo pháp phải được buông bỏ, nhưng không thể buông bỏ giáo pháp trước khi vượt sang bờ bên kia”, thì ta vẫn còn chưa hiểu lời Bụt dạy. Giáo pháp mà còn làm cho ta bị kẹt, thì chưa phải là chánh pháp đích thực. Điểm quan yếu ta cần phải nhận thấy là, khi muốn sang sông, nếu ta còn bị kẹt vào những điều ta học thì đó là ta chưa thực sự hiểu được những điều ấy, và ta đã bị rắn cắn. Và có thể chúng ta cũng không thực sự muốn sang sông, chúng ta chỉ muốn nói chuyện về sự sang sông.
Ngón tay chỉ mặt trăng
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu có người lấy ngón tay trỏ mặt trăng cho một người khác thấy, người kia phải nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng. Nếu người ấy chỉ nhìn ngón tay và nhận lầm ngón tay là mặt trăng thì không những mất mặt trăng mà mất luôn cả ngón tay.”
Kinh Lăng Già cũng nói: “Tất cả những giáo lý dạy trong kinh đều là ngón tay chỉ lên mặt trăng.” Ngón tay không phải là mặt trăng. Ta không nên lầm ngón tay là mặt trăng, cũng như chiếc bè không phải là bờ bên kia. Giáo lý không phải là bản chất của tuệ giác mà là hướng dẫn cần thiết để đạt đến tuệ giác, như bản đồ thành phố Paris không phải là thành phố Paris.
Chim Trĩ
Trong kinh Bách Dụ có một chuyện ngụ ngôn rất buồn cười mà cũng rất hay, nói về vấn đề mắc vào ý niệm và ngôn từ. Một chàng ngu nọ bị ốm. Ông thầy thuốc tới thăm mạch, bảo rằng chim trĩ có thể trị bệnh anh ta được. Ông thầy thuốc ra về, chàng ngu cứ lặp đi lặp lại hai tiếng “chim trĩ” suốt ngày. Mấy tháng qua rồi mà vẫn chưa lành bệnh.
Có người bạn tới thăm, thấy vậy lấy bút vẽ một con chim trĩ lên giấy, chỉ cho chàng ngu và bảo: “Chim trĩ là cái này này, anh cứ ăn nó đi thì mới lành bệnh.” Người bạn vừa đi khỏi, chàng ngu liền bỏ tờ giấy có hình chim trĩ vào miệng, nhai và nuốt. Vẫn chưa thấy lành bệnh, chàng ta thuê thợ vẽ đến vẽ thêm hàng trăm bức tranh chim trĩ nữa để nhai nuốt. Bệnh tình càng lúc càng tăng. Một hôm thầy thuốc ghé lại, đưa chàng ra chợ mua vài con chim trĩ thật, bảo người nhà làm thịt và bắt chàng ăn ngay trước mặt mình. Từ đó chàng ngu khỏi bệnh.
Mới nghe câu chuyện, chúng ta ai cũng có cảm tưởng là chàng ngu quá. Nhưng nghĩ cho kỹ thì chúng ta cũng không khôn hơn chàng ta bao nhiêu. Chúng ta bị kẹt rất nhiều ở khái niệm và danh từ. Học hỏi đã vậy mà hành trì cũng vậy. Tập sổ tức, quán từ bi hay niệm Bụt, chúng ta cũng có thể thực tập một cách thiếu thông minh và khôn khéo; vì chúng ta vướng mắc vào hình thức thực tập cho nên tuệ giác không dễ dàng phát sinh.
Phá chấp
Kinh Người Bắt Rắn không nhắm tới mục đích diễn bày cái hại của dục lạc, cũng không hẳn nhằm mục đích giảng giải các ý niệm về vô ngã, niết bàn và như lai, dù kinh có nói tới những ý niệm ấy. Mục đích chính của kinh là dạy về tinh thần phá chấp. Bụt dạy ta không nên bị kẹt vào bất cứ thứ gì, dù là kẹt vào giáo pháp. Vì vậy câu nói “Pháp mà còn phải buông bỏ huống hồ những cái không phải Pháp” là tinh túy của kinh.
Học hỏi là để thông hiểu mà không phải để chứa chất kiến thức. Kiến thức nếu không được sử dụng một cách khôn khéo sẽ trở thành những chướng ngại cho sự hiểu biết. Kiến thức nói theo danh từ Phật học là sở tri; những chướng ngại do kiến thức tạo nên gọi là sở tri chướng (jñeyāvaraṇa). Cũng như khi lên một cái thang, nếu ta không buông bỏ nấc thang thứ năm thì không thể nào leo lên được nấc thang thứ sáu. Cho nấc thang thứ năm là nấc cao nhất, đó là một sở tri chướng.
Kinh Bách Dụ có nói tới chuyện một người cha trẻ, tưởng con trai mình đã chết rồi. Ăn cướp tràn vào xóm, đốt nhà và bắt cóc trẻ em; thấy một cái thây trẻ con chết cháy trên đống tro, anh tin ngay đó là xác con mình, hỏa thiêu rồi thu tro bỏ vào một cái túi gấm, đi đâu cũng đem theo. Một đêm nọ, đứa con thoát được tay kẻ cướp, tìm về gõ cửa. Người cha đang ôm túi tro, nước mắt đầm đìa, nhất định không chịu mở cửa, dù đứa con bên ngoài đã xưng tên. Cuối cùng đứa con phải bỏ đi và hai cha con vĩnh viễn xa nhau. Bụt kết luận: “Nếu ta bị kẹt vào một sở tri rồi và cho đó là chân lý, thì dù chân lý có tới gõ cửa ta cũng sẽ không chịu mở.”
Im lặng sấm sét
Trong kinh Samyutta Nikaya, ta đọc câu chuyện của Vacchagotta tới tham vấn Bụt. Ông ta hỏi: “Sa môn Gotama, xin ngài cho biết là có ngã hay không?” Bụt lặng thinh không đáp. Ông ta hỏi vài câu nữa, Bụt cũng lặng thinh. Sau đó Vacchagotta đứng dậy bỏ đi.
Ông ta đi rồi, thầy Ananda hỏi Bụt vì sao Thế Tôn không trả lời. Bụt nói: “Đạo lý vô ngã mà tôi giảng dạy cho các vị khất sĩ là một pháp môn hướng dẫn thiền quán mà không phải là một chủ thuyết. Hiểu nó như một chủ thuyết, các vị có thể bị kẹt vào nó. Du sĩ Vacchagotta đi tìm một chủ thuyết chứ không phải đi tìm một giáo lý với mục đích thực tập. Vì vậy tôi đã im lặng. Nếu tôi nói có ngã, thì tôi đi ngược lại với giáo lý tôi đã dạy. Nếu tôi nói là không có ngã thì ông ta sẽ níu vào đấy để làm nên một chủ thuyết. Điều này không có lợi cho ông ta mà cũng không có lợi cho ai cả.”
Cái im lặng của Bụt là một thứ im lặng mà ta được thấy sau này trong kinh Duy Ma Cật. Chúng ta thường gọi thứ im lặng đó là im lặng sấm sét, một thứ im lặng hùng hồn và vang dội, có khả năng phá vỡ và giải phóng, không khác với tiếng gầm sư tử lớn “Pháp mà còn phải buông bỏ, huống hồ những gì không phải Pháp.”
Giới thứ nhất của dòng tu Tiếp Hiện
“Không được thờ làm thần tượng của bất cứ một chủ nghĩa hoặc một lý thuyết nào, dù đó là những chủ nghĩa hay lý thuyết Phật giáo. Những hệ thống giáo lý trong đạo Bụt phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn tu tập mà không phải là những chân lý tuyệt đối để bảo vệ và thờ phụng.”
Cầm một cây súng trong tay, ta có thể bắn chết một người hay năm, bảy người. Nhưng khi cầm một ý thức hệ hay một chủ thuyết trong tay, ta có thể giết hàng vạn người. Vậy cho nên giới bất sát nếu không được thực hiện trong tinh thần phá chấp thì chưa phải là giới bất sát hiểu theo chân nghĩa đạo Bụt.
Vô ngã và sáu kiến xứ
Vô ngã có thể được định nghĩa một cách tổng quát và đơn giản là không có một thực thể bất biến và đồng nhất nào nằm trong lòng con người hoặc sự vật cả. Vạn vật, trong đó có con người, luôn luôn chuyển biến.
Ở đây Bụt nói tới sáu kiến xứ tức sáu nhận thức sai lầm có thể làm nền tảng cho ý niệm về ngã: sắc, thọ, tưởng, hành, thức và thế giới. Năm xứ đầu là năm uẩn. Vô ngã ở đây được diễn tả bằng ba cách — không phải là của ta, không phải là ta, và không phải là thần ngã:
Ba phạm trù ngã chấp
- Thân thể này là của ta — thân thể không phải cái ta nhưng là một sở hữu của cái ta. Đây là chấp ngã sở (this body is mine).
- Thân thể này là ta — thân thể với cái ta là một. Đây là chấp ngã (this body is me).
- Thân thể này là thần ngã — tức atman, một nguyên lý thần linh, bản chất của vũ trụ, có mặt trong tất cả mọi loài và mọi vật (this body is the Self).
Ở nơi khác Bụt còn nêu một cái bẫy thứ tư, vi tế hơn: tương tại — trong thân thể có ta, trong ta có thân thể. Thoát khỏi hai cái bẫy đầu, ta có thể rơi vào cái bẫy này.
Kiến y — chỗ tựa cho một ngã kiến
Để cho yên tâm, để đừng sợ hãi hư vô và đoạn diệt, con người cố bám víu vào một ý niệm về ngã. Đó là nhu yếu thông tục và phổ biến của con người. “Tôi tư duy tức là có tôi” — câu nói ấy của triết gia Descartes đủ chứng minh cho nhu yếu muôn thuở ấy.
Đi tìm chỗ dựa cho một cái ngã thường tại là một việc làm không tưởng, giống như xây một tòa lâu đài bằng cát. Những tòa lâu đài đó sẽ sụp đổ, chóng hay muộn, và cuối cùng người ta cũng chỉ chuốc lấy sự lo lắng, mệt nhọc, than khóc, khổ đau và tuyệt vọng mà thôi. Chỗ tựa cho một ngã kiến tức là kiến y. Còn kiến y thì còn có nỗi sợ hãi, khổ đau và thất vọng.
Tin tưởng vào một cái ngã thường tại là điều bấp bênh và nguy hiểm. Một ngày kia, vì một lý do nào đó mà mất đức tin ấy, ta sẽ rơi vào hố hoang mang và tuyệt vọng. Từ kiến chấp thường tại, ta đi sang hố thẳm của kiến chấp đoạn diệt. Những luận chấp hữu và vô, thường và đoạn, theo đạo Bụt, đều là biên kiến. Cái thấy của Bụt vượt khỏi những biên kiến ấy mà an trú ở trung đạo — không hữu cũng không vô, không thường cũng không đoạn.
Nhiều người đã hiểu một cách đảo ngược lý vô ngã. Bụt chỉ dạy rằng không có một thực thể bất biến nào trong năm uẩn và trong thế giới; Bụt không hề dạy rằng năm uẩn và thế giới chỉ là hư vô. Hợp thể ngũ uẩn là một thực tại, tuy rằng đó là một thực tại vô thường và vô ngã. Thực tại năm uẩn và thế giới vượt thoát bốn ý niệm có, không, thường hằng và đoạn diệt.
“Khi một người quán chiếu về sự sinh khởi của thế giới, người ấy không bị kẹt vào ý niệm không; khi người ấy quán chiếu về sự tàn hoại của thế giới, người ấy không bị kẹt vào ý niệm có… Như Lai xa lìa hai biên kiến ấy và dạy đạo lý Trung đạo.” — Kinh Trung Đạo Nhân Duyên
Tóm lại, khi một người nghe giáo lý vô ngã mà bị rơi vào hố thẳm của tư tưởng hư vô và đoạn diệt, ta phải tìm cách cứu người ấy lên bằng sợi dây thừng (hoặc cái thang) Trung đạo nhân duyên.
Bất khả đắc, bất khả thi thiết
Năm uẩn và thế giới có mặt trong tự thân chân như của chúng; ý niệm của ta về chúng là những ý niệm phát sinh từ các khuôn khổ có, không, thường và đoạn. Các khuôn khổ này chỉ là những ý niệm không chứa đựng được thực tại, không nắm bắt được thực tại, cũng như một cái màn lưới không thể buông bắt được hư không. Từ ngữ anupalabhya được dịch là bất khả thi thiết và bất khả đắc trong tụng bản chữ Hán của kinh Người Bắt Rắn.
Niết bàn
Từ ngữ nirvāṇa có nghĩa là sự tắt ngấm. Sự tắt ngấm ở đây có nghĩa là sự tắt ngấm của ngọn lửa phiền não, khổ đau và hận thù, và cũng là sự tắt ngấm của mọi ý niệm có, không, thường, đoạn, vô thường, vô ngã, trung đạo, bất khả đắc — và cả ý niệm niết bàn nữa. Thế nhưng niết bàn lại thường hay được hiểu lầm là hư vô và đoạn diệt. Con rắn này thường hay bị bắt ở đàng đuôi.
Theo bài kinh, Niết bàn được định nghĩa là: đã thực tập thành công giáo lý vô ngã (đời sống phạm hạnh đã hoàn tất, điều cần làm đã làm) · đã đạt được chánh trí (nhận thức được chân lý thực tại) · đã chấm dứt được luân hồi (không còn bị sinh tử nữa) · đã đạt được vô úy (không hoảng sợ). Rồi kinh mô tả nó như một sự chiến thắng: lấp được thông hào, vượt được thông hào, phá được thành quách, mở tung được lề khóa, soi được vào gương thánh trí.
Như Lai
Người an trú trong niết bàn là Như Lai. Theo kinh Kim Cương Bát Nhã, Như Lai là người không từ đâu tới cả và cũng sẽ không đi về đâu cả (Như Lai giả, tùng vô sở lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai). Có kinh lại nói: “Như Lai từ chân như tới và sẽ đi về chân như” — nói như thế cũng là nói không tới và không đi.
Như Lai, cũng như niết bàn, không thể được nhận thức qua những phạm trù như sinh diệt, có không, một nhiều và tới đi. Tìm kiếm Như Lai bằng ý niệm thì không thể nào tìm ra, dù người đi tìm là vua trời Đế Thích, Sinh Chủ hay Phạm Thiên. Trong tụng bản Pāli ta đọc: “Tôi nói rằng ngay ở đây và bây giờ cũng không tìm được dấu tích của một vị Như Lai.”
Và Bụt kết luận: “Từ trước tới nay, Như Lai chỉ giảng dạy về khổ đau và con đường chuyển hóa khổ đau.” Như thế là Bụt không muốn phí thì giờ trong việc tìm cách nhét thực tại vào các khuôn khổ của khái niệm, một công việc mà Người cho là không có bổ ích và không thể nào làm được.
Đối phó với sự hiểu lầm
Thời nào cũng có những người hiểu lầm, ở đâu cũng có những người hiểu lầm. Vì thiếu thông minh mà hiểu lầm, vì thiếu thiện chí mà hiểu lầm. Nhiều khi người ta còn cố ý hiểu lầm, giả bộ hiểu lầm hoặc vì ganh tị mà hiểu lầm. Đó là sự thực muôn đời. Bụt đã nói rõ ràng rằng Người không chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt, vậy mà suốt hai ngàn sáu trăm năm lúc nào cũng có những người lên án Bụt là giảng dạy đạo lý hư vô và đoạn diệt.
Để đối phó với những người vu cáo nhiếc mắng và phỉ báng mình, người học Bụt phải có thái độ nào? Câu trả lời của Bụt là phải thực tập giáo lý vô ngã. Thấy được tự tính vô ngã, ta sẽ thấy luôn được nguyên tắc duyên sinh, vì duyên sinh và vô ngã là một.
Người kia vì vô minh, vì không hiểu, vì hận thù đã có thái độ hằn học ấy. Người ấy là sản phẩm của hoàn cảnh gia đình, bạn bè, học đường, văn hóa xã hội. Thấy được như thế, ta sẽ có lòng từ bi, ta sẽ thấy rằng chuyển đổi người ấy chưa đủ, ta phải chuyển đổi luôn hoàn cảnh của người ấy. Ta có trách nhiệm hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp về nhận thức và thái độ của người ấy.
Nếu ta không tự đồng nhất ta với năm uẩn thì những vu cáo, nhiếc mắng và đánh đập ấy đâu có động được tới ta? Bụt hỏi: “Nếu bây giờ đây, ở bên ngoài khu vườn này, có người đem tom góp cành khô và cỏ khô về đốt và sử dụng, thì chúng ta có nên nghĩ là chúng ta đang bị người ta đem đốt và sử dụng không?”
Tám ngọn gió
Trong tám ngọn gió, không có ngọn gió nào có thể thổi xiêu được con người đã chứng thực được đạo lý vô ngã. Tám ngọn gió đó là: lợi (lợi lộc) · suy (lỗ lã) · hủy (hủy báng) · dự (tán dương) · xưng (tâng bốc) · cơ (nhục mạ) · khổ (hoàn cảnh bức bách) · lạc (hoàn cảnh sung túc dễ dàng).
Lời cuối
Kinh Người Bắt Rắn thật là một kinh quan trọng. May mắn thay chúng ta còn có được hai tụng bản của hai truyền thống khác nhau, tụng bản tiếng Pāli của Đồng Diệp bộ và tụng bản tiếng Hán của Hữu bộ. Nhờ so sánh hai tụng bản mà ta tìm trở về được rất gần với tinh thần nguyên thủy của kinh.
Vào tháng sáu 1992 tại đạo tràng Mai Thôn (Village des Pruniers), Thiền sư hướng dẫn một khóa tu hai mươi mốt ngày cho gần 300 thiền giả quốc tế về chủ đề Thiền quán trong truyền thống Đại thừa, và dùng kinh Người Bắt Rắn để khai mạc khóa tu. Từ kinh Người Bắt Rắn ta có thể đi vào các kinh như Bát Nhã, Bảo Tích, Duy Ma, Hoa Nghiêm và Pháp Hoa một cách rất tự nhiên.
“Các thế hệ học giả và hành giả tương lai cần căn cứ trên kinh điển của cả hai truyền thống Bắc tông và Nam tông để có thể khôi phục lại được tinh thần nguyên thủy của đạo Bụt. Chúng ta cần phải sử dụng tất cả kinh điển của cả hai truyền thống.”
Sách đọc · Trọn bộ chú giải, sáu buổi
Trọn bộ Im Lặng Sấm Sét đọc thành tiếng. Các buổi 1–4 và 6 do kênh Lắng Lòng Nghe thực hiện; buổi 5 do kênh Nghe sách thảnh thơi.
S6.2 — Đại ý kinh · Nguyên do nói kinh · Tên kinh · Sự hiểu lầm của thầy Arittha
Sách đọc · Lắng Lòng NgheKhông xem được? Mở trên YouTube ↗
S6.3 — Tai họa của dục lạc · Cái nguy của sự hiểu lầm giáo lý · Bắt rắn · Chiếc bè
Sách đọc · Lắng Lòng NgheKhông xem được? Mở trên YouTube ↗
S6.4 — Ngón tay chỉ mặt trăng · Chim trĩ · Phá chấp · Im lặng sấm sét · Vô ngã
Sách đọc · Lắng Lòng NgheKhông xem được? Mở trên YouTube ↗
S6.5 — Kiến y · Tiếp nhận giáo lý vô ngã · Bất khả đắc, bất khả thi thiết
Sách đọc · Nghe sách thảnh thơiKhông xem được? Mở trên YouTube ↗
S6.6 — Niết Bàn · Như Lai · Đối phó với sự hiểu lầm · Lời cuối
Sách đọc · Lắng Lòng NgheKhông xem được? Mở trên YouTube ↗
Pháp thoại của Thiền sư · Làng Mai, 1998
Ba buổi giảng về chính bài kinh này do Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết vào tháng 9 và tháng 10 năm 1998 tại Làng Mai, thuộc loạt pháp thoại Con Đường Chuyển Hóa. Nghe chính giọng Thiền sư giảng là một chuyện khác với đọc.
Ôn tập · Câu hỏi cho Huynh Trưởng
Sáu câu hỏi, do đơn vị soạn
- Cái sai của thầy Arittha được chú giải gọi tên rất chính xác: nhầm an lạc với dục lạc. Hãy nêu một thí dụ trong một buổi sinh hoạt GĐPT mà hai thứ ấy trông giống nhau.
- Vì sao Bụt không phán một câu cho xong chuyện? Ngài đã làm gì thay vào đó, và vì sao bài kinh chép lại tỉ mỉ đến thế?
- Giải thích ví dụ chiếc bè cho một em Thiếu Nam hay Thiếu Nữ trong ba câu, mà không dùng chữ “chấp” và chữ “chủ thuyết”.
- “Pháp mà còn phải buông bỏ.” Vậy giới luật có được buông bỏ không? Hãy trả lời cho cẩn thận, dùng chỗ phân biệt chánh pháp và phi pháp trong chú giải.
- Hãy gọi tên một thứ mình đang ôm mà dù chân lý tới gõ cửa mình cũng chưa chắc chịu mở — cái túi tro trong câu chuyện.
- Tám ngọn gió: ngọn nào lay mình mạnh nhất — lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, hay lạc?
Đọc thêm, ngay trên trang nhà
- Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22) — tụng bản Pāli, có giảng giải và câu hỏi
- Alagaddūpamasutta — nguyên văn Pāli kèm bản dịch tiếng Anh
- Kinh Trung Đạo Nhân Duyên (SN 12.15) — sợi dây kéo ra khỏi hố đoạn diệt
- Kinh Diệt Trừ Phiền Giận — năm phương pháp
- Kinh Soi Gương (MN 15)
- Bậc Lực — trọn danh mục bài học
- Kinh Kālāma (AN 3.65) — mười điều chớ vội tin
- Tam Tạng Kinh Điển trên trang nhà
Xuất xứ
Chánh văn và chú giải trên trang này là công trình của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, lấy từ sách Im Lặng Sấm Sét — Kinh Người Bắt Rắn chú giải và bản dịch tiếng Anh của Người, Discourse on Knowing the Better Way to Catch a Snake (Thundering Silence). Chép lại ở đây để Huynh Trưởng và đoàn sinh tu học. Phần ghi chú về số hiệu bài kinh, các câu hỏi ôn tập và lời chú dưới mỗi video là do GĐPT Huyền Quang soạn.
Thấy chỗ nào khác với ấn bản in, xin viết về [email protected] để chúng tôi sửa lại.